Đổi mới quản lý kinh doanh thực phẩm

Đừng chỉ trên giấy!

Thứ Bảy, 14/04/2018, 09:42:16
 Font Size:     |        Print
 

Gà được giết mổ và sơ chế với kỹ thuật hiện đại tại một đơn vị tham gia trong chương trình truy xuất nguồn gốc sản phẩm. Ảnh: Nguyễn Trí

Một số điểm mới trong Nghị định 15/2018/NĐ-CP thay thế Nghị định số 38/2012/NĐ-CP hướng dẫn một số điều của Luật An toàn thực phẩm (ATTP) từng được trông đợi sẽ tạo nên sự đột phá trong lĩnh vực vô cùng nóng này. Thế nhưng sau hơn hai tháng có hiệu lực, cơ quan chức năng vẫn lúng túng, còn doanh nghiệp (DN) chưa kịp mừng đã vội lo.

Gỡ được “giấy phép con”

Cần phải nhắc lại rằng, trước ngày 2-2-2018, thời điểm NĐ 15 có hiệu lực, một trong những vấn đề gây bức xúc nhất đối với DN chính là hành trình “xin - cho” để có được thủ tục xác nhận công bố phù hợp quy định ATTP. Thống kê chưa đầy đủ của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM), năm 2015, Cục An toàn thực phẩm, Bộ Y tế đã cấp khoảng 35.000 giấy xác nhận và con số này tiếp tục tăng mạnh trong năm 2017, có thể lên tới 45.000 giấy phép. Khảo sát của CIEM cũng cho thấy, để xin được một giấy xác nhận, trung bình DN mất khoảng 10 triệu đồng với thực phẩm thường và khoảng 30 triệu đồng với thực phẩm chức năng (gồm chi phí chính thức và cả phi chính thức). Thời gian xin xác nhận trung bình là bốn tháng.

Do vậy, CIEM đánh giá cao NĐ 15 vì đã tháo gỡ được một loại “giấy phép con” vốn đang là điểm nghẽn gây ảnh hưởng đến môi trường kinh doanh. Nhờ đó, khoảng hơn 95% sản phẩm thực phẩm không cần phải tiến hành các thủ tục về mặt hành chính. Nếu làm được theo đúng tinh thần này thì có thể tiết kiệm được 1,8 triệu ngày công và hơn 600 tỷ đồng.

Tự thân con số đó đã nói lên nhiều điều! Nhưng tính tích cực của NĐ 15 không chỉ dừng ở đó. Đổi mới trong cung cách quản lý còn thể hiện ở đổi mới trong kiểm tra về ATTP nhập khẩu. Đó là chỉ kiểm tra tối đa 5% hồ sơ trên tổng số lô hàng nhập khẩu trong vòng một năm do cơ quan hải quan lựa chọn ngẫu nhiên. Thêm nữa, NĐ này cũng được đánh giá cao vì những thay đổi trong quy định về điều kiện sản xuất, kinh doanh để bảo đảm ATTP, tiệm cận với các phương thức quản lý chung trên toàn cầu. Đó là mở rộng diện các DN không cần phải có giấy xác nhận đủ điều kiện ATTP, cũng như mở rộng đối tượng, các cơ sở được miễn cấp giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện ATTP. Điều đó cho phép các cơ sở sản xuất ban đầu nhỏ lẻ, các cơ sở sơ chế sản phẩm ban đầu, các nhà hàng, cửa hàng ăn uống… không phải xin cấp giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện ATTP mà được quyền tự công bố và chịu trách nhiệm.

Người tiêu dùng đang lo ngại về năng lực của các cơ quan chức năng không bảo đảm được yêu cầu chuyển đổi phương thức quản lý sang hậu kiểm. Ảnh: Kiên Định

Lại lo rối trong thực thi

Tuy DN vô cùng trông mong thời điểm NĐ 15 đi vào thực tế, song theo thừa nhận của bà Trần Việt Nga, Phó Cục trưởng Cục An toàn thực phẩm, Bộ Y tế, hiện còn một số khó khăn, vướng mắc phát sinh do một số địa phương chưa có văn bản yêu cầu các cơ quan chuyên môn tiếp nhận hồ sơ tự công bố của DN. “Tại một số địa phương, việc tiếp nhận hồ sơ tự công bố của DN vẫn do Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm tiến hành. Do nhiệm vụ này vẫn chưa được giao chính thức cho UBND tỉnh, nếu sau này UBND tỉnh lại giao cho cơ quan khác tiếp nhận thì sẽ gây khó cho DN”, bà Trần Việt Nga nói.

Về phía cơ quan kiểm tra nhà nước về thực phẩm nhập khẩu, đại diện Cục Giám sát quản lý về hải quan, Tổng cục Hải quan, Bộ Tài chính cũng kêu khó. Chẳng hạn như muốn xác định được số lượng 5% tổng số lô hàng áp dụng phương thức kiểm tra giảm, sẽ cần có dữ liệu thống kê về tổng số lô hàng nhập khẩu trong vòng một năm, tính từ ngày NĐ 15 có hiệu lực, hay từ khi DN mở tờ khai nhập khẩu hàng hóa!? Đối với các lô hàng nhập khẩu, để được áp dụng phương thức kiểm tra giảm, DN phải đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 17. Tuy nhiên, cơ quan Hải quan chưa được Bộ Y tế cung cấp thông tin dữ liệu về các lô hàng đáp ứng được các điều kiện này. Trường hợp DN được phân luồng xanh thì DN nộp hồ sơ giảm thế nào (vì luồng xanh không yêu cầu DN nộp hồ sơ)?

Bên cạnh đó, đại diện Cục Giám sát quản lý về hải quan cũng nêu ý kiến, theo quy định các trường hợp được miễn kiểm tra nhà nước về ATTP nhập khẩu quy định tại khoản 1, Điều 13, Nghị định 15 không quy định để được miễn kiểm tra ATTP đối với lô hàng nhập khẩu, khi làm thủ tục hải quan DN phải nộp/xuất trình cho cơ quan Hải quan bản sao/bản chính “Giấy tiếp nhận đăng ký bản công bố sản phẩm”. Do vậy, khi làm thủ tục nhập khẩu, nếu cơ quan Hải quan yêu cầu DN nộp/xuất trình Giấy tiếp nhận đăng ký bản công bố sản phẩm sẽ làm phát sinh thủ tục hành chính. Còn nếu không yêu cầu DN nộp/xuất trình Giấy tiếp nhận đăng ký bản công bố sản phẩm (không lưu Giấy tiếp nhận đăng ký bản công bố sản phẩm trong bộ hồ sơ hải quan), cơ quan Hải quan không đủ cơ sở chứng minh lô hàng đã có Giấy tiếp nhận đăng ký bản công bố sản phẩm để thuộc diện được miễn kiểm tra ATTP nhập khẩu.

Về phía DN, khi thực hiện NĐ 15 vẫn còn khá nhiều băn khoăn. Đại diện một DN chuyên nhập khẩu thực phẩm tại Hà Nội cho rằng, tại khoản 1, Điều 42, NĐ 15 quy định các sản phẩm đã được cấp Giấy tiếp nhận bản công bố hợp quy và Giấy xác nhận công bố phù hợp quy định ATTP trước ngày có hiệu lực của NĐ được tiếp tục sử dụng đến khi hết thời hạn ghi trên giấy và hết thời hạn sử dụng của sản phẩm để nhập khẩu sản phẩm. Tuy nhiên, theo quy định tại Nghị định 38/2012/NĐ-CP hướng dẫn một số điều của Luật An toàn thực phẩm mà Chính phủ ban hành trước đó, khi nhập khẩu, sản phẩm đã có quy chuẩn kỹ thuật phải được công bố hợp quy và đăng ký bản công bố hợp quy với cơ quan nhà nước có thẩm quyền trước khi đưa ra lưu thông trên thị trường. Đại diện DN này băn khoăn, khi làm thủ tục hải quan, DN có được sử dụng “Giấy tiếp nhận bản công bố hợp quy hoặc Giấy xác nhận công bố phù hợp quy định an toàn thực phẩm” để được miễn kiểm tra nhà nước về ATTP theo quy định tại khoản 1, Điều 13, Nghị định 15 không? Nếu được thì DN phải nộp hay xuất trình cho cơ quan Hải quan bản photo có xác nhận của DN hay bản sao có chứng thực hay bản chính các chứng từ này?”.

Để một Nghị định mang tính đột phá trong quản lý ATTP có thể đi vào đời sống, sẽ cần đến sự vào cuộc của bộ máy quản lý nhà nước, từ UBND địa phương cho đến các bộ, ngành liên quan. Trước hết, UBND các cấp cần vào cuộc quyết liệt hơn trong phân công công việc, trách nhiệm của các cá nhân, tổ chức liên quan trong thực thi công vụ. Cũng như cần phải bảo đảm nguồn lực để phục vụ mục đích thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm.

Về phía Bộ Y tế, cần tiến hành thí điểm về thanh tra theo tuyến quận/huyện, tuyến xã/phường tại hai thành phố là Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, bởi hiện nay mới chỉ thực hiện thanh tra cấp tỉnh, thành phố (theo Luật Thanh tra). Đối với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Công thương cần có sự phối hợp chặt chẽ để giải quyết những vướng mắc phát sinh.

Thiết nghĩ, trong lúc đang còn sự “vênh” trong các quy định, cơ quan quản lý nhà nước nên giải quyết theo hướng tạo thuận lợi tối đa cho DN. Bởi đó là cách thức quản lý của một “nhà nước kiến tạo”!

Theo tính toán, việc thực hiện cơ chế quản lý mới có thể tiết kiệm được 1,8 triệu ngày công và hơn 600 tỷ đồng.

An Hà