Mất, còn kỷ niệm

Thứ Sáu, 02/03/2018, 16:18:58
 Font Size:     |        Print
 

Người Hà Nội xin chữ tại Hội chữ Xuân Mậu Tuất 2018. Ảnh: Thủy Nguyên

Đã lâu lắm rồi tôi mới lại có kỷ niệm đụng lợn ăn Tết. Không phải là đua đòi sang chảnh gì, cũng chả phải nỗi quá sợ thịt lợn không sạch, nhất là vào ngày 26 Tết, ở thành phố tìm thợ mổ lợn còn khó hơn lên trời, công mỗi người thường trăm rưỡi hai trăm mà giờ lên năm trăm còn khó khăn, bảo gần thì đến, xa thì “chúng em chịu”, năm nay ở phố cũng nhiều khách nhờ lắm! Nhìn phản thịt tươi rói, rổ lòng, dồi bốc khói bên chiếu lá dong đợi mấy bà vợ rửa, chậu đỗ xanh ngâm đợi đãi, cậu bạn cùng khu tập thể, đầu trọc lốc dữ tợn thế mà hôm nay nói như hụt hơi: “Nhờ Dự án chậm mà mình có cơ hội ngồi với nhau, chứ từ bé lớn lên, nhìn nhau gật đầu thế thôi. Sang năm, họ đập khu này, dù thế nào cũng cố tụ họp một năm một lần. Chung cư chật thì tìm chỗ khác, bắt con lợn, ngả ra cho có Tết!”.

Những nồi bánh chưng lục bục ở sân khu tập thể, góc phố ngày giáp Tết cho trái tim ta ấm lại, như sau chiến tranh, thấy cò vạc lại về đồng. Chỉ là một cái cớ thôi. Một cảm giác thôi về sự còn hay mất. Khi đứng trong mảnh vườn quê của nhà văn Nguyễn Quang Thiều chiều cuối năm, nhìn khói bếp tỏa, bể nước mưa, anh em, bạn bè túi bụi làm giúp chia thịt, sắp mâm, tôi mới hiểu vì sao mấy chục năm nay, bao giờ, gia đình ông cũng về ăn Tết quê. Ðó là không gian mà hai người vợ góa trong truyện ngắn “Hai người đàn bà xóm Trại” của ông cứ nhất định tin, nhất định đợi hai người chồng bộ đội của họ, rồi thế nào cũng sẽ về quê ăn Tết, đợi suốt từ trẻ đến lúc già, mà mỗi khi Tết đến, vẫn rạo rực, nồng ấm quanh nồi bánh! Ký ức, hoài vọng về những gì thân thuộc luôn ẩn ở mỗi người, chỉ tùy điều kiện, hoàn cảnh mà phát lộ. Vì cuộc sống, mưu sinh mà có lúc đành lắng đi, chìm xuống, nhưng có một quy luật ngược, càng hiện đại càng khát khao truyền thống, càng mới càng nhớ cái cũ xưa. Ðến nhiều đám cưới, tôi cứ lặng nhìn cái cổng chào bóng bay kết lại chờ người ta kéo dây bóng bay ấy xuống cho nổ tạch, tạch, tạch, cố hân hoan như bánh pháo tép đón dâu xưa. Nhưng cố lắm cũng chỉ có tiếng, mà không còn thơm phảng phất, không lấm tấm xác hoa đào - một nét văn hóa thanh bình trước khi bị biến tướng, thành tai họa để rồi bị cấm. Hồn vía ấy bay đi rồi, còn đâu nữa! Không giống chữ và những ông đồ, sau nhiều năm biến thiên mai một, gần đây đã lại về!

Con bé 16 tuổi con chị bạn tủm tỉm cười khi nghe bà hàng xóm chỉ vẽ: “Con thái lòng, dồi đẹp đấy! Nhưng dạ dày mày thái gì mà bằng gang tay thế? Con gái vụng, sau về nhà chồng người ta lót lá chuối dắt trả nhà đẻ!”. Con bé đang lớp 10, tiếng Anh IELT cũng gần 7.0, đang học cả tiếng Nhật. Lớp trẻ trâu này, bà dọa kiểu cũ, đã chắc nó sợ. Thế hệ nó rồi sống với chồng chứ có ở chung đâu, nhà chồng chê mà chồng nó kéo lại thì làm gì? Nhưng bà mẹ trẻ năm nay không còn rồ lên lo học, lo luyện, lo du học cho con nữa. Chị bảo hôm nọ phát điên vì con, may kìm được! Lần đầu tiên, nó nghe chị đi chợ Tết, bày bàn thờ, cắm hoa, giúp nấu cỗ. Nó giành làm nem, mà cuối cùng bỏ ngang, cãi hỗn nhất định không làm nữa, bảo “không ai cho su hào làm nhân như mẹ, bà nội toàn thái cà rốt vừa đẹp, vừa ngon!”. Chị kể, càng muốn con đi du học, được mở mang đầu óc, cơ hội nghề nghiệp rộng mở, chị càng canh cánh về cái vụng dại, cứng nhắc, hướng ngoại của nó. Vụ làm nem, cuối cùng mẹ con cũng đấu dịu, coi như một sáng tạo gia giảm công thức, mẹ làm khác bà cũng tốt chứ sao? May nó còn thích tự làm. Mẹ con rủ rỉ, mai ra nước ngoài còn có cái mà nhớ, có cớ mà khóc. Năm nay Báo Nhân Dân hằng tháng lại có bàn tròn thảo luận chủ đề cỗ Tết cổ truyền và “mâm cỗ Tết đóng gói”, chuyện ngày Tết ở nhà hay đi du lịch; truyền thống, gia giảm hay cách tân với cánh ngỗng hun khói, ăn đủ món hay ăn “cái tinh thần cỗ Tết”… “Xung đột” văn hóa đã vào từng nhà rồi. Có người Việt ở tận đẩu đâu vẫn khăn gói về nước, làm ăn xa mấy Tết cũng cố về quê. Lại có người chán Tết vì mệt, vì khổ, đi chơi cho khỏe. Người đòi bỏ nhập Tết ta với tết Tây. Hiện đại là khó cưỡng, những giữ cái gì và giữ thế nào? Ăn mặc là một chuyện. Ði học không về, cũng chưa ngại. Ðứt văn hóa Việt, trong căn nhà Việt, con người Việt, ngay trong nước mới đáng kể. Nguyễn Duy có câu thơ ám ảnh: “ Khi gần thì mất, xa xôi lại còn”, là thế.

Mấy năm nay, tôi được anh bạn hay tặng cho cái giò xào bố anh tự gói gửi từ quê lên. Cái độc đáo là cụ bó bằng mo cau! Bao nhiêu cái lá rơi xuống để lại những cái mo cau ấy? Cái giò chặt, giòn, bóc ra còn lưu luyến những thớ sợi áo lụa mo cau trắng trên thân giò thơm lạ. Giống như ăn cái giò nạc gói lá chuối quê, cái đầu giò vị thơm lá chuối khó tả mà thứ giò đúc ống gói ni-lông không bao giờ có. Năm nay, anh kể ở quê, giờ ruộng, mương lại có cá rồi. Vì dân đã dùng thuốc trừ sâu, phân bón vi sinh thay cho hóa học. Nước lành thì đòng đong cân cấn về thôi. Quà quê lại thêm một dự cảm mới. Cái đã mất đi lâu nay, mất đi từ hoài niệm “cá đồng”, “gà đồi”... gửi vào các biển hiệu nhà hàng, nay đang về sau bao trả giá. Tranh tường phố Phùng Hưng với hình ảnh xe điện, vòi nước công cộng, mảng tường vôi lở… đang là một điểm nhấn du lịch đẹp cho người dân cả nước khi về Hà Nội. Cái mất đi sẽ không được nhớ đến thế nếu không hàm chứa một giá trị tốt đẹp trong đó. Ðó là một thời Hà Nội dù gian khổ, thiếu thốn nhưng hào hoa, kiên cường, nhân ái với nhau, gửi nhà cho nhau đi sơ tán; vẫn đi mua hoa, đi nhà thờ sau những trận đánh bom…

Cái đã mất không chỉ cho thấy quy luật đào thải và phát triển mà còn nhắc người ta phải có ý thức gìn giữ cái tốt đẹp hôm nay. Cái đã mất nhắc ta đừng vội vàng vì thôi thúc mưu sinh mà tàn phá thêm nữa để rồi tiếc nuối. Cái đã mất gợi ý cho ta nên phục dựng cái gì là cần thiết, là giá trị. Cái đã mất thổi một khát vọng sáng tạo, sinh sôi thêm những giá trị mới trên nền truyền thống.

Nếu đã trót mất mà như thế thì vẫn là an ủi: Hãy còn!

SONG HÀ

Chia sẻ