Kiểm định chất lượng giáo dục

Cần đồng bộ con người và thước đo

Thứ Bảy, 30/12/2017, 14:42:53
 Font Size:     |        Print
 

Chưa có nhiều CSGD chú trọng đầu tư cho hệ thống phòng thí nghiệm, phòng thực hành. Ảnh: Trần Hải

Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 tạo nên bước thay đổi sâu sắc trong việc đào tạo và cung ứng nguồn nhân lực cho thị trường lao động. Muốn đáp ứng điều đó, các cơ sở giáo dục (CSGD) đại học sẽ phải chú trọng đến kiểm định chất lượng giáo dục (KĐCLGD). Tuy thế, mục tiêu đến năm 2020 cơ bản hoàn thiện kiểm định vòng 1, vẫn là thách thức lớn khi chưa đồng bộ hai yếu tố: “con người” và “thước đo”.

“Thẩm định”của “kiểm định”

Theo Cục Quản lý chất lượng - Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD-ĐT), tính đến giữa tháng 12-2017, cả nước có 214 đại học (ĐH) và học viện (HV), 33 trường cao đẳng (CĐ) và trung cấp (TC) sư phạm hoàn thành tự đánh giá. Song, mới chỉ 91 ĐH, HV được đánh giá ngoài, trong đó 55 cơ sở được công nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng (TCCL), một CĐ sư phạm được đánh giá ngoài và được công nhận đạt TCCL. Cũng trong năm 2017, đã có bảy chương trình đào tạo được đánh giá ngoài và công nhận đạt TCCL theo bộ tiêu chuẩn ban hành kèm theo Thông tư số 04/2016/TT-BGDĐT ngày 14-3-2016 của Bộ trưởng GD-ĐT.

Điều đáng nói, bộ tiêu chuẩn này được xây dựng đã tiếp cận được với tiêu chuẩn đánh giá chương trình đào tạo của Mạng lưới đảm bảo chất lượng các trường đại học ASEAN (AUN-QA). TS Phạm Hiệp, nhà nghiên cứu giáo dục đại học nhận định: “Việc Bộ GD-ĐT xây dựng bộ tiêu chí kiểm định mới này là một bước đi nền tảng đối với hệ thống kiểm định tại Việt Nam”.

Nói nền tảng là bởi, nó sẽ khiến giảm bớt vị thế độc quyền của kiểm định trong nước, khi các trường được trao quyền tự quyết để lựa chọn kiểm định trong nước hay kiểm định với AUN hoặc các tổ chức khác. Điều này sẽ tạo nên sự cạnh tranh lành mạnh giữa các trung tâm kiểm định, không phân biệt trong nước hay quốc tế.

Nhằm hoàn chỉnh “thước đo”, ngày 19-5-2017, Bộ GD-ĐT ban hành Thông tư số 12/2017/TT-BGDĐT quy định về KĐCL cơ sở giáo dục đại học. Theo đó, tại Điều 51 đã quy định khá rõ việc “sử dụng kết quả KĐCLGD” làm căn cứ để xác định chất lượng giáo dục đại học, vị thế và uy tín của CSGD; thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm; là một trong các tiêu chí để cơ quan có thẩm quyền xem xét hỗ trợ đầu tư, giao nhiệm vụ, thực hiện phân tầng, xếp hạng, giao quyền tự chủ và sắp xếp lại mạng lưới CSGD… Tại khoản 3 Điều 51 cũng quy định: “Cơ sở giáo dục tham gia KĐCL nhưng chưa được công nhận đạt TCCL bị hạn chế quyền tự chủ. Nếu liên tục ba năm sau đó mà vẫn không thực hiện cải tiến chất lượng để được công nhận đạt TCCL thì sẽ bị áp dụng chế tài hạn chế hoặc đình chỉ việc tuyển sinh”.

Những quy định đi kèm chế tài chặt chẽ này là cần thiết, nhưng khi áp dụng vào thực tế lại nảy sinh câu hỏi lớn: Liệu sẽ xử lý “hạn chế quyền tự chủ” bằng cách nào? Và có thể mạnh tay “đình chỉ tuyển sinh” với các trường kém chất lượng được không?

Trao đổi với Nhân Dân cuối tuần, TS Lê Mỹ Phong - phụ trách Phòng KĐCLGD (Cục Quản lý chất lượng) cho biết: Hiện tại khung pháp lý về KĐCLGD đã đưa ra được “thước đo”, nhưng yếu tố “con người” vẫn là một khó khăn lớn. Còn không ít người đứng đầu CSGD chưa thật coi trọng vai trò kiểm định; bên cạnh đó, đội ngũ kiểm định viên còn hạn chế cả về số lượng lẫn chất lượng.

Được biết, hiện cả nước có năm tổ chức KĐCLGD được thành lập, bốn trung tâm đã đi vào hoạt động; 346 người được cấp thẻ trên tổng số 965 người đã hoàn thành chương trình đào tạo Kiểm định viên (KĐV); trong khi mới chỉ 35% số CSGD ĐH và 10% số trường CĐ sư phạm được kiểm định. Ông Phong cũng thừa nhận, vẫn còn tình trạng các văn bản hướng dẫn chậm được ban hành, và đa số KĐV phải kiêm nhiệm giảng dạy hay làm cán bộ quản lý của một đơn vị nào đó... Tất cả đều có tác động đến chất lượng kiểm định.

Lấy lại thời gian đã lỡ

Theo nhiều chuyên gia, KĐCLGD là một trong những biện pháp cần thiết để tạo động lực cho các CSGD nâng cao chất lượng đào tạo, thích ứng các yêu cầu của thời cuộc. Lẽ ra, việc triển khai hệ thống KĐCLGD quốc gia phải được tiến hành mạnh mẽ từ mười năm trước, nhưng rút cục, cho đến giờ việc triển khai vẫn rất vướng.

Trước hết, Luật Giáo dục và Luật Giáo dục đại học chưa được sửa đổi, bổ sung những điều khoản về KĐCLGD, do đó thiếu chế tài để thúc đẩy thực thi. Thêm nữa các cơ quan hữu trách chưa triển khai đánh giá đủ một vòng các trường trong hệ thống, đồng nghĩa với công tác phân tầng, xếp hạng sẽ thiếu căn cứ để thực hiện.

Để hoàn thành mục tiêu 2020 đánh giá xong vòng 1, cần tiến hành đồng bộ vừa tháo gỡ khó khăn về cơ chế, chính sách vừa phải nâng cao năng lực KĐCLGD. Hiện nay, chủ yếu công tác này dựa vào các trung tâm kiểm định trong nước. Nhưng liệu các tổ chức này đã đủ tính độc lập, và sự công tâm trong kiểm định khi mà mỗi tổ chức đều trực thuộc một cơ quan chủ quản? Có khả năng các trung tâm tách ra độc lập không? Một lãnh đạo trung tâm không muốn nêu tên đã nói rằng, “đứng riêng kiểu gì khi mà cơ sở vật chất, và kinh phí hoạt động đều không tự chủ được?”. Nhưng ngay cả khi đứng riêng cũng chưa chắc đã tránh được tiêu cực, vị này nói. Tuy nhiên, tình trạng này sẽ được thay đổi một khi chúng ta xây dựng được các thiết chế chặt chẽ, rõ ràng giúp tạo nên môi trường cạnh tranh lành mạnh trong công tác kiểm định.

Nhìn rộng hơn, muốn đưa nền giáo dục của Việt Nam hội nhập mạnh mẽ, ngành giáo dục cần sớm sửa đổi hai luật mang tính xương sống của cả hệ thống. Một khi nhận thức được KĐCLGD mang ý nghĩa sống còn đến sự tồn tại của một thương hiệu của CSGD, thì chính những người đứng đầu sẽ không còn đối phó và tránh né. Thay vào đó, họ nhận thức được KĐCL chính là sự hoàn thiện mình để có thể cạnh tranh minh bạch và sòng phẳng hơn trong việc thu hút và đào tạo nguồn lực lao động cho đất nước.

Đó cũng là con đường để giáo dục Việt Nam được biết đến với những tên tuổi CSGD được xếp hạng trong khu vực và thế giới!

Thực tế cho thấy, đã có 5 trường ĐH và 92 chương trình đào tạo được đánh giá ngoài và công nhận bởi các tổ chức kiểm định quốc tế và khu vực. Một số CSGD thay vì lựa chọn đơn vị KĐCLGD trong nước đã chấp nhận đầu tư kinh phí để mời đơn vị kiểm định quốc tế đánh giá. Điều đó tạo nên sức ép cạnh tranh giữa các đơn vị kiểm định, và góp phần tăng sự minh bạch trong kiểm định.

Hồng Châu