Kỷ niệm 45 năm Chiến thắng “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không” (12-1972 - 12-2017)

Chiến công thầm lặng của những “pháo thủ sao vuông” (Tiếp theo và hết)

Thứ Sáu, 22/12/2017, 18:11:59
 Font Size:     |        Print
 

Các nhà văn, nhà báo đi thực địa, viết bài trong Chiến dịch 12 ngày đêm, 1972.

Kỳ 2: Nhắc nhớ, tri ân
Với thời gian, những đóng góp, hy sinh thầm lặng của lực lượng dân quân tự vệ Thủ đô đã được ghi nhận ngày càng rõ nét và đầy đủ. Tuy nhiên, sự bất cập trong việc triển khai xây dựng và thực hiện chính sách đối với đội quân thầm lặng này cần được khắc phục sớm.

Theo tài liệu của Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, trong 12 ngày đêm của chiến dịch, đã có 368 phân đội tự vệ, đảm nhiệm 1.428 khẩu pháo và súng máy phòng không các loại, bố trí đón lõng bắn máy bay bay thấp. Trên 100 trận địa pháo phòng không, gần 500 đài quan sát xa, quan sát bổ trợ được lập nên, tạo thành thế trận phòng không nhân dân. Đại tá Đinh Thế Văn, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, chia sẻ: Hiếm có dân tộc nào có lực lượng dân quân tự vệ như Việt Nam. Lực lượng “phi chính quy” của ta không chỉ sử dụng các loại súng pháo phòng không cỡ nhỏ như 12,7 mm, 14,5 mm, mà còn sử dụng các loại cao xạ 57, 85, 88, 90... để hạ máy bay địch. Thành tích mà các đơn vị có được là Tự vệ Nhà máy Xe lửa, Liên đội tự vệ súng máy cao xạ 14,5 mm khu phố H.K, Trung đội tự vệ Nhà máy Dệt 8-3, Tự vệ Nông trường Xuân Mai… đã bắn rơi máy bay F111 của Mỹ.

Đánh giặc ở tầng cao hơn, pháo thủ Nguyễn Đăng Thâu (Trung đoàn 261, Sư đoàn Phòng không Hà Nội 361 - Sư đoàn “cận vệ đỏ” trong Chiến dịch Phòng không bảo vệ Hà Nội) dí dỏm cho rằng, ngày đó “ra ngõ gặp anh hùng”, nhiều người không có súng, nhưng có ý chí. Chính những người tự vệ đã góp phần làm tăng thêm sức mạnh cho các trung đoàn tên lửa và họ cần được đời sau biết đến. Lâu nay công tác tuyên truyền của ta vẫn chưa quan tâm đến họ.

Nói về đóng góp của lực lượng dân quân tự vệ, PGS, TS Trần Ngọc Long, Nguyên Phó Viện trưởng Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam khẳng định: Đây là lực lượng có công rất lớn song thầm lặng. Họ đa số là phụ nữ, tay búa tay súng, tay cày tay súng, vừa sản xuất vừa chiến đấu. Trên bình diện tổng thể, chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” có sự đóng góp to lớn của thế trận chiến tranh nhân dân. Trong thế trận đó, một cao trào toàn dân làm công tác phòng tránh, toàn dân bắn máy bay địch, phòng không ở tầm thấp, giúp đỡ bộ đội chiến đấu đánh máy bay B52 ở tầng cao hơn.

Bà Bắc (bên trái), nữ tự vệ phường Giang Biên mô tả cảnh máy bay Mỹ gầm rú trên bầu trời 45 năm trước.


PGS, TS Trần Ngọc Long phân tích, trong xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân (gồm bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân tự vệ và du kích), Chủ tịch Hồ Chí Minh hết sức coi trọng việc xây dựng, kết hợp và phát huy vai trò to lớn của ba thứ quân phù hợp với yêu cầu của chiến tranh nhân dân Việt Nam. Người nhấn mạnh: “Dân quân, tự vệ và du kích là lực lượng của toàn dân tộc, là một lực lượng vô địch, là một bức tường sắt của Tổ quốc. Vô luận địch nhân hung bạo thế nào, hễ đụng vào lực lượng đó, bức tường đó, thì địch nào cũng phải tan rã”.

Song ông Long cũng băn khoăn: “Từ đó đến nay chúng ta cũng chưa đánh giá hết công lao của lực lượng dân quân, tự vệ. Đây là bài toán nan giải bởi có người không chứng minh được, không ai xác nhận. Lại thêm việc cán bộ làm chính sách mà cứng nhắc thì thiệt thòi cho những người có cống hiến!”.

Hỏi về chế độ chính sách cho những người từng tham gia lực lượng dân quân tự vệ trong cuộc chống chiến tranh phá hoại miền bắc, đặc biệt là Chiến dịch 12 ngày đêm, các nhân chứng cho biết, thành tích trong chiến đấu đã được các cấp tặng bằng khen, nhưng sau này khi nghỉ hưu thì không nhận được bất cứ sự khích lệ nào, ngoài chế độ theo quy định ở các đơn vị, xí nghiệp. Bà Nguyễn Thị Tý, Đội tự vệ phường Giang Biên (quận Long Biên) bộc bạch: “Sau chiến dịch, tôi vẫn làm ở đài truyền thanh, vừa đi hát động viên tinh thần cho các đội sản xuất, xây dựng lại thành phố. Bốn chị em chúng tôi ở đài quan sát ngày đó giờ vẫn làm ruộng ngoài bãi sông để kiếm sống”.

Theo tìm hiểu, tại Quyết định số 62/2011/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ: Về chế độ, chính sách đối với đối tượng tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, làm nhiệm vụ quốc tế ở Cam-pu-chia, giúp bạn Lào sau ngày 30-4-1975 đã phục viên, xuất ngũ, thôi việc. Quyết định có áp dụng với cả lực lượng tự vệ, nhưng lại là sau 30-4-1975, chưa “chạm” tới lực lượng tự vệ trong kháng chiến chống Mỹ. Đây là điều thiệt thòi cho những người tham gia lực lượng này trong thời gian trước ngày đất nước thống nhất nói chung, lực lượng tự vệ Thủ đô trong Chiến dịch mùa đông năm 1972 nói riêng.

Ngoài kiến nghị một số chính sách cần điều chỉnh, quan tâm hơn đến lực lượng dân quân tự vệ có công trong bảo vệ Thủ đô Hà Nội, ông Vương Duy Tâm (đội Tự vệ Cục Khí tượng thủy văn) cho rằng, cần có một biểu tượng nhắc nhớ tinh thần, sự hy sinh quả cảm của lực lượng dân quân tự vệ Thủ đô: “Cơ quan chức năng nên nghiên cứu xây dựng tượng đài dân quân tự vệ. Chúng ta đã có nhiều tượng đài. Ngay cả tượng đài Chiến thắng B52 cũng đã có, được xây dựng ở nơi chiếc B52-G đầu tiên bị bắn, rơi xuống cánh đồng Chuôm, thuộc xã Phù Lỗ, huyện Kim Anh (nay là huyện Sóc Sơn). Vậy thì hãy xây dựng một tượng đài để nhắc nhớ những đóng góp, hy sinh thầm lặng của lực lượng dân quân tự vệ”.

Thời gian trôi đi, những người tự vệ ngày đó nay người còn, người mất. Ông Nguyễn Văn Trung (Đội tự vệ Nhà máy Cơ khí Mai Động) giãi bày: “Công lao của lực lượng tự vệ đã rõ. Đến bây giờ cuộc sống của chúng tôi ổn định, có được khích lệ bằng điều gì đó thì cũng vui, không thì cũng chẳng sao, bởi chúng tôi cống hiến vì thành phố và không đòi hỏi”.

45 năm đã trôi qua. Khúc tráng ca Tháng 12 đạn lửa ấy trên bầu trời Hà Nội vẫn luôn rực đỏ. Ký ức dẫu có lúc ngủ yên, nhưng vẫn luôn được ghi dấu, và sống động trong mỗi tâm hồn, trái tim những người Hà Nội cần lao đã sẵn sàng xả thân để bảo vệ Thủ đô thân yêu, ngày ấy. Tri ân, và nhắc nhớ sẽ không bao giờ là đủ. Nhưng đó là điều phải làm, bởi đó chính là hành trang đầy ý nghĩa cho hôm nay và ngày mai.

Trong bài phóng sự “Hà Nội tọa độ lửa” của nhà báo Đỗ Quảng, những ngày đêm chiến đấu, bảo vệ Hà Nội hiện lên đầy kiêu hãnh và lãng mạn: Hà Nội là tọa độ lửa khủng khiếp đối với kẻ thù. Cái tọa độ lửa ấy có phải chỉ là tên lửa bay theo ô đã chia nhau gùi gùi trên bầu trời Hà Nội làm mờ hết sao đêm, mà còn là ánh sáng màu xanh trong trẻo của pháo tầm cao, tầm thấp và đạn lửa từ mặt đất từ sân thượng, bờ ruộng do lực lượng dân quân tự vệ bắn lên, xóa mờ hẳn những đám lửa bom B52 vào đánh phá.

Nguyễn Văn Học