Ðô thị trước thách thức ứng phó thiên tai

Thứ Sáu, 30/11/2018, 17:45:17
 Font Size:     |        Print
 

Trình độ và chất lượng quản lý đô thị chưa theo kịp thực tiễn khiến cho các đô thị càng khó ứng phó với thiên tai. Trong ảnh: Giao thông tại TP Hồ Chí Minh tê liệt do hàng chục tuyến phố ngập sâu bởi ảnh hưởng của bão số 9. Ảnh: LÊ QUÂN

Cơn bão số 9 mặc dù đã giảm thành áp thấp nhiệt đới khi đi vào đất liền khu vực TP Hồ Chí Minh, song mưa to kéo dài đã dẫn tới ngập lụt, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống cư dân và gây khó khăn trong công tác ứng phó cho chính quyền địa phương. Tăng cường khả năng chống chịu của đô thị trước tác động của quá trình đô thị hóa và đặc biệt là tác động của biến đổi khí hậu (BÐKH), hướng tới sự phát triển bền vững, đã trở thành đòi hỏi cấp thiết.

PGS, TS NGUYỄN HỒNG TIẾN (*) 

Phần lớn đô thị nằm trong vùng dễ tổn thương

Năm 2013, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Ðề án "Phát triển các đô thị Việt Nam ứng phó với BÐKH giai đoạn 2013 - 2020". Ðây là cơ sở quan trọng để triển khai đồng bộ các giải pháp phát triển đô thị ứng phó với BÐKH. Tuy nhiên, do hệ thống đô thị nước ta đã có bước phát triển nhanh về số lượng với 819 đô thị, tỷ lệ đô thị hóa đạt gần 38%, nên cũng đã bộc lộ nhiều bất cập. Ðó là, sự hình thành và phát triển đô thị còn thiếu kiểm soát, hệ thống đô thị của các tỉnh phát triển vượt dự báo phát triển đô thị quốc gia, vùng. Ðã và đang xuất hiện xu hướng đô thị hóa toàn tỉnh và ý tưởng hình thành các đô thị lớn theo mô hình thành phố vùng. Trong khi đó, trình độ và chất lượng quản lý đô thị lại chưa theo kịp thực tiễn phát triển. Trình độ và năng lực dự báo của quy hoạch cũng chưa đáp ứng được xu thế phát triển đô thị. Phát triển đô thị mất cân đối, hạ tầng đô thị thiếu đồng bộ và quá tải...

Trong bối cảnh ấy, sự tác động của BÐKH đã khiến cho những bất cập của đô thị càng trở nên trầm trọng hơn. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra, Hà Nội - một trong 17 đô thị lớn nhất thế giới, đang phải hứng chịu những tác động tiêu cực do BÐKH gây ra. Theo đó, gần 4.000 héc-ta diện tích nội thành có nguy cơ tổn thương cao và 648 héc-ta có nguy cơ tổn thương rất cao. Theo số liệu thống kê, trước năm 1970 tần suất mưa, lụt lớn tại thành phố Hà Nội xảy ra từ 15 đến 25 năm/lần. Trong vòng 60 năm qua, các đợt lũ lụt xảy ra trở nên thường xuyên hơn với tần suất 5 - 7 năm/lần. Dân số của Hà Nội cũng tăng cao, hiện thành phố có khoảng hơn 7,7 triệu người, trong đó dân số đô thị chiếm hơn 40%. Không những thế, với 17 khu công nghiệp, hơn 1.300 làng nghề, hơn 5,3 triệu xe gắn máy và 560.000 ô-tô, mỗi ngày Hà Nội tiêu thụ ước tính trên 38 triệu kWh điện và hàng triệu lít xăng dầu… Ðây chính là nguồn phát thải khí nhà kính gây BÐKH. Cho dù đã có quy hoạch thoát nước toàn thành phố, nhưng nguy cơ ngập úng ngày càng cao do những bất cập trong thực thi như nhiều sông, kênh, mương được cống hóa nhưng lại hạn chế trong kết nối liên thông, tình trạng bùn thải, đất đá, rác thải chưa được quan tâm nạo vét thường xuyên...

Phần lớn các đô thị của Việt Nam nằm trong vùng dễ tổn thương của BÐKH. Ngoài các thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Ðà Nẵng, Hải Phòng, Cần Thơ…, báo cáo của Bộ Xây dựng về nhận diện nguy cơ rủi ro trên cơ sở kịch bản BÐKH gần đây cũng cho thấy, hệ thống đô thị ven biển và vùng đồng bằng sông Cửu Long có tới 138 đô thị có nguy cơ ngập cao, trong đó có 24 đô thị thuộc 15 tỉnh có nguy cơ ngập nặng đến rất nặng. Ðối với hệ thống đô thị miền núi và Tây Nguyên có 143 đô thị có nguy cơ chịu ảnh hưởng, trong đó có 17 đô thị có nguy cơ chịu ảnh hưởng rất mạnh. BÐKH cũng sẽ tác động đến việc phát triển hệ thống giao thông đô thị, làm gia tăng ngập úng đô thị,… ảnh hưởng trực tiếp cuộc sống của người dân...

Ðồng bộ hóa các gói giải pháp

Nhiệm vụ trọng tâm trong giai đoạn hiện nay là cần đẩy mạnh thực hiện có hiệu quả các giải pháp và hành động đã được quy định trong Ðề án "Phát triển các đô thị Việt Nam ứng phó với BÐKH giai đoạn 2013 - 2020", như: Lồng ghép việc thích ứng với BÐKH vào quy hoạch đô thị, trong đó quy hoạch đô thị thích ứng với biến đổi khí hậu phải góp phần tạo điều kiện giảm nhẹ thiệt hại do thiên tai, tạo điều kiện thực hiện các biện pháp công trình và phi công trình, tạo điều kiện cứu trợ khi có tai họa và phục hồi sau tai họa. Xây dựng cơ sở dữ liệu và bản đồ ngập úng/bản đồ thích ứng với BÐKH, bộ chỉ số đánh giá mức độ chống chịu tác động của BÐKH. Tăng cường hiệu lực, cơ chế, chính sách về quản lý xây dựng và phát triển đô thị. Cùng đó, cần nâng cao nhận thức, năng lực và tư vấn chuyên nghiệp, quản lý phát triển đô thị hạn chế tác động của BÐKH đối với phát triển đô thị. Xây dựng quy định về quản lý phát triển đô thị thích ứng với nguy cơ BÐKH do thiên tai. Xây dựng các chương trình phát triển đô thị cần đầu tư khẩn cấp do bị ảnh hưởng mạnh từ BÐKH và nước biển dâng...

Một điều quan trọng là phải thực hiện nghiêm túc các quy hoạch đô thị đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, tránh tình trạng điều chỉnh quy hoạch và phát triển theo kiểu tự phát, phá vỡ quy hoạch như hiện nay. Ứng phó BÐKH còn cần phải giảm phát thải khí nhà kính, vì thế trong các chiến lược, định hướng và chương trình phát triển cần phải bổ sung các giải pháp, kế hoạch, mục tiêu giảm phát thải của từng ngành nghề, lĩnh vực…

Bên cạnh đó, cần nâng cao hiệu quả của công tác dự báo, giám sát và cảnh báo sớm. Tập trung hoàn thành việc xây dựng, cải tạo hệ thống thoát nước, cải tạo và chống lấn chiếm thu hẹp hồ ao, sông, kênh trong đô thị. Thường xuyên nạo vét khơi thông dòng chảy; xây dựng, củng cố, nâng cấp hệ thống đê bao, đê xung yếu, bờ ngăn chống lũ. Khảo sát và xây dựng các hồ, hầm lưu trữ nước mưa tại các đô thị. Mặt khác, chính quyền các cấp cần đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục và nâng cao nhận thức của cộng đồng nhằm tạo ra sự chuyển biến cơ bản trong tư duy, hành động về phòng, chống, giảm nhẹ thiên tai.

BÐKH ngày càng trở nên khó lường và mang tính cực đoan nhiều khi ngoài dự báo của các cơ quan chuyên môn. Thích ứng, giảm thiểu hay tăng cường năng lực đô thị ứng phó là việc làm rất cần thiết, đòi hỏi sự vào cuộc quyết liệt hơn của các ngành, các cấp và mỗi người dân.

TS Hoàng Phúc Lâm, PGÐ Trung tâm Dự báo KTTV Quốc gia:

Cần chú trọng cập nhật thông tin dự báo

Các nhà khoa học nhận định hiện tượng BÐKH và trái đất nóng lên đang khiến các cơn bão mạnh lên và trở nên thường xuyên hơn. Ngoài việc tăng số lượng các cơn bão mạnh, quỹ đạo các cơn bão cũng có những thay đổi phức tạp. Theo dự báo từ nửa cuối tháng 9-2018 đến hết năm 2018, số lượng bão và ATNÐ trên khu vực Biển Ðông khả năng xuất hiện khoảng 4-5 cơn, trong đó có khoảng từ 1 đến 2 cơn ảnh hưởng trực tiếp đến đất liền nước ta, tập trung ở khu vực Trung Bộ.

(*) Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Cấp thoát nước Việt Nam.

Chia sẻ