Những người gieo cảm hứng

Thứ Bảy, 24/11/2018, 13:04:12
 Font Size:     |        Print
 

Hội đua voi ở Đác Lắc.

Hồi xa rừng về biển, mỗi lần từ đồng bằng ngước mắt về những dãy núi mờ xa là tâm hồn tôi lại lâng lâng những cảm xúc khó tả. Một nỗi nhớ không có cách diễn đạt nhưng nhiều khi lửng lơ, quay quắt.

Nhớ về Tây Nguyên lại nhớ về họ, những người đã góp phần giúp tôi hiểu hơn, cảm hơn dòng âm hưởng đại ngàn. Họ là những ân nhân trực tiếp và gián tiếp, góp phần nhuận sắc, gợi mở cho tôi thêm nhiều điều mới mẻ khi tiếp cận với vùng đất, con người, lịch sử và văn hóa miền thượng.

Buổi tối Đà Lạt của một ngày đã xa. Trong ngôi nhà nhỏ ấm áp dưới tán rừng thông ở đường Lý Tự Trọng, GS Phạm Đức Dương, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Đông - Nam Á, đã dành cho cậu phóng viên tập sự những bài học kiến văn và luận pháp bổ ích. Chuyên gia hàng đầu về Đông - Nam Á học ấy đã không tiếc thời gian để giảng giải tôi nghe những đúc rút cơ bản về dân tộc học, về địa văn hóa. Ông cũng cung cấp danh mục những công trình nghiên cứu lừng danh của các tên tuổi trong giới khảo cứu dân tộc học quốc gia và quốc tế. Giáo sư nói: “Cháu sống và làm nghề viết ở Tây Nguyên, nếu không ít nhiều hiểu biết về lịch sử, văn hóa, căn tính người bản địa thì bài viết sẽ nhạt nhẽo, đi bên rìa, không thể cung cấp cho người đọc những lớp trầm tích thú vị bên trong…”. GS Phạm Đức Dương tạ thế từ lâu, nhưng tôi đã ghi vào đầu lời dạy của bậc thầy khả kính, bao nhiêu năm qua vẫn tìm đọc, suy ngẫm về những tác giả, những công trình mà ông tâm huyết chỉ giáo. Dù kiến văn và khả năng có hạn, nhưng tôi biết rằng, tình yêu và sự gắn bó với vùng đất và con người ở nơi chốn này từ những cuộc tiếp xúc như thế đã tự nhân lên.

Vâng, không chỉ tôi mà bất cứ ai muốn có những kiến thức đầu tiên về văn hóa các tộc người Tây Nguyên không thể không tìm đến những con người lừng danh mà những khảo cứu của họ đã trở thành mẫu mực. Những học giả người Việt đầu tiên nghiên cứu có chủ đích về các sắc tộc bản địa vùng này phải kể đến Nguyễn Kinh Chi và Nguyễn Đổng Chi bằng tác phẩm Mọi Kontum rồi Toan Ánh và Cửu Long Giang với cuốn sách Cao nguyên miền Thượng. Trước và sau khi ra đời Viện Viễn Đông Bác cổ, đã có rất nhiều học giả người Pháp cũng đã chọn miền thượng du Trung phần làm nơi chốn ký thác tâm huyết và trí tuệ, những công trình lớn về dân tộc học Tây Nguyên đã hình thành trong thời kỳ này.

Vui hội buôn làng .

Để có những khảo cứu vô cùng giá trị như Rừng, đàn bà, điên loạn - Đi qua miền mơ tưởng Gia Lai, Pơtao - một lý thuyết về quyền lực ở người Jơrai Đông Dương hay Xứ Jơrai, giã từ nước Pháp văn minh, Jacques Dournes đã dành những năm tháng đẹp nhất của cuộc đời mình cho vùng đất của bộ tộc này thời đời sống hoang dã. Nhà dân tộc học xuất thân linh mục đã cải đạo để theo tín ngưỡng “vạn vật hữu linh”, sống hòa trong đời sống đồng bào. Người bản địa không gọi ông bằng cái tên tiếng Pháp mà họ gọi J.Dournes bằng bản ngữ là Đam Bo (người đàn ông tóc trắng). J.Dournes nói thạo nhiều thứ tiếng của các tộc người, đóng khố cởi trần, lấy vợ bản địa và ròng rã 25 năm sống với buôn làng. Ông viết về tộc người Jơrai như chính người Jơrai kể chuyện chính mình chứ không phải là cái nhìn suy luận, áp đặt.

Ở vùng nam Tây Nguyên, những người già chưa quên hình ảnh chàng trai Pháp Georges Condominas, người đã xin già làng buôn Sarluk của người M’nông Gar bên dòng K’rông Anô được làm ngôi nhà sàn lợp bằng cỏ tranh và sống ngay tại làng, nói tiếng M’nông, lên rừng săn thú, hái lượm, xuống suối bắt cá, tiễn đưa người chết và dự phạt vạ. Với ba năm làm người Sarluk “trong mơ cũng nói tiếng M’nông thay cho tiếng Pháp”, G.Condominas đã cùng dân làng khai quật bộ đàn đá tiền sử, một phát hiện làm chấn động giới khảo cổ trên toàn thế giới. Ông cũng là người tạo nên bộ khảo cứu làm giới dân tộc học châu Âu sửng sốt Chúng tôi ăn rừng Đá - Thần Gô, một mẫu mực về sự cách tân trong phương pháp tiếp cận dân tộc học.

Một người đến Tây Nguyên trước G.Condominas là Henri Maitre. Người đàn ông tài hoa và tâm huyết này đã bỏ xác giữa rừng thiêng bởi những sự hiểu nhầm đau lòng sau khi đã hoàn tất công trình nổi tiếng Rừng người Thượng, một tác phẩm ra đời trong điều kiện cực kỳ khó khăn, mà chính J.Dournes ngợi ca là đỉnh cao về khảo cứu Tây Nguyên. Cùng thời với H.Maitre là L.Sabatier. Không nói đến chức phận của viên Công sứ Đác Lắc, người ta nhớ đến Sabatier là người phát hiện sử thi Đam San, một sử thi hùng vĩ và ông cũng là người đầu tiên hệ thống hóa bộ Luật tục Ê Đê. Linh mục Gioan Cassaigne trong quá trình trải nghiệm ở vùng cao nguyên D’Jiring cũng đã sưu tầm Luật tục Cơ Ho và dịch qua ngữ hệ Latinh…

Những cái tên của những người yêu Tây Nguyên đắm đuối. Những bộ khảo cứu lừng danh hình thành sau quá trình gắn bó mật thiết với không gian rừng. Những nguồn tâm huyết và năng lượng tràn trề khi hòa mình với các tộc người sinh tồn ngàn đời giữa thiên nhiên hoang dã. Những gì họ công bố đã đặt những nền tảng cơ bản. Đó là nguồn tư liệu quý, nguồn kiến thức dồi dào, nguồn cảm hứng bất tận cho những ai muốn tiếp cận với xứ sở đầy huyền bí và hấp dẫn này. Các học giả người Việt, người Pháp kể tên trên đây đã về với đất sâu, nhưng những trước tác mô tả sinh động đời sống, sản xuất, văn hóa, tâm linh… của các tộc người Tây Nguyên còn đây như minh chứng về những hành trình khám phá không mệt mỏi. Mỗi khi đến với một địa danh nào đó ở xứ sở này, tôi lại xúc động lật lại những trang khảo cứu và lần theo vết chân của những bậc thức giả đã dành thời gian, trí tuệ và sức lực cho những khai mở đầu tiên về dân tộc học ở xứ sở đại ngàn…

Trần Quốc Vượng, tên của vị giáo sư Sử học nổi tiếng không chỉ được nhắc đến như “một uy tín khoa học” mà còn là “một nguồn cảm hứng”. Giáo sư qua đời đã gần thập kỷ, nhưng tên của ông thì các thế hệ học trò luôn nhắc. Lần đầu tiên được gặp và hỏi chuyện cố giáo sư là vào năm 1995, người dẫn tôi đến với ông là thi sĩ Thảo Phương, tác giả tập thơ Người đàn bà do đàn ông sinh ra. Mới đó mà cả hai nhân vật vừa nhắc đã là người thiên cổ. Trong cuộc rượu bên lề một hội thảo ở Buôn Mê Thuột, GS Vượng chăm chỉ nâng chén hơn là giải đáp những thắc mắc của thằng bé con. Nếu tôi hỏi về âm nhạc dân gian, cụ Vượng bảo: “Cái này cậu hỏi Tô Ngọc Thanh, lão ấy sâu”. Nếu tôi hỏi về các bộ luật tục, cụ lại nói: “Cái này Ngô Đức Thịnh làm kỹ”. Nếu tôi hỏi về văn hóa sử thi, cụ chỉ: “Phan Đăng Nhật rất rành khoản này”. Rồi cũng giống như cố GS Phạm Đức Dương, cố GS Trần Quốc Vượng lại bảo tôi giở sổ tay viết nhanh một danh mục sách trong khi cụ vẫn nhiệt tình nâng chén. Dù không biểu đạt nhiều bằng lời nhưng phong thái ấy, cốt cách ấy và tầm hiểu biết sâu sắc của cố GS Trần Quốc Vượng đã tạo cho người đối diện sự tin cậy và cảm hứng lan tỏa.

Ngày nước nhà thống nhất, nhiều học giả phía bắc có điều kiện thâm nhập thực tế Tây Nguyên, trong đó có GS, TS nhạc sĩ Tô Ngọc Thanh. Ông kể với tôi, mấy ngàn trang tư liệu và rất nhiều băng cassettes, đặc biệt là những băng ghi âm nhạc dân gian Tây Nguyên được ông thực hiện trong những chuyến công tác khởi đầu ấy đã trở thành nguồn vốn căn bản. Cùng hành trình với Tô Ngọc Thanh, GS, TSKH Phan Đăng Nhật mê mải “lạc” vào kho tàng sử thi. GS Ngô Đức Thịnh chăm chú nghiên cứu luật tục nên nhiều tháng, nhiều ngày ngồi chứng kiến hội đồng già làng các tộc người xử tội, phạt vạ. GS, nhạc sĩ Tô Vũ thì thức uống rượu cần nhiều đêm với các nghệ nhân để ghi những làn điệu dân ca. Các giáo sư Hà Văn Tấn, Hoàng Xuân Chinh đặt bàn chân lên khắp Tây Nguyên để kiếm tìm những trầm tích ẩn sâu trong lòng đất. Các giáo sư Mạc Đường, Phan Huy Lê truy tìm những nghi vấn khoa học bằng những dẫn luận lý thuyết vén dần những bức màn bí ẩn…

Thật may mắn, trong hành trình học hỏi của mình, tôi đã có được những lần tiếp xúc quý giá với họ. Từ những kiến thức mà các bậc thức giả “sấy khô, cô đặc” đã khai mở cho, cùng với những trang khảo cứu vô giá của các trưởng bối, đã giúp cho người viết báo non trẻ ở chốn núi rừng có thêm chút hành trang nhỏ bé khi đến với đồng bào nơi miền đất mà mình quý yêu, gắn bó.

Tùy bút của UÔNG THÁI BIỂU

Chia sẻ