Sửa Luật Giáo dục đại học:

“Cởi trói” và tăng tính dự báo

Thứ Bảy, 10/11/2018, 18:26:49
 Font Size:     |        Print
 

Hoạt động của ba đại học vùng còn nhiều bất cập, khiến các trường đại học thành viên không phát huy được sức mạnh. Ảnh: Bảo Khánh

Chỉ sau 5 năm ban hành, Luật Giáo dục đại học (GDĐH) đã phải sửa đổi. Vẫn biết là khi luật đi vào cuộc sống thì phát sinh những vấn đề mới, bất cập và khó thực thi nên phải điều chỉnh. Vậy nhưng, khoảng thời gian quá ngắn khiến dư luận không thể không băn khoăn về tính dự báo, bám sát thực tiễn, và cả sự chuyên nghiệp của công tác xây dựng và ban hành luật.

Nỗ lực lấp “lỗ hổng” trong luật

Theo thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD-ĐT), tính đến hết năm học 2016-2017, hệ thống GDĐH hiện có 235 trường đại học, học viện (bao gồm 170 trường công lập, 60 trường tư thục và dân lập, 5 trường có 100% vốn nước ngoài), 37 viện nghiên cứu khoa học được giao nhiệm vụ đào tạo trình độ tiến sĩ, 33 trường cao đẳng sư phạm và hai trường trung cấp sư phạm, với quy mô khoảng gần 2 triệu sinh viên. Thế nhưng, những thông tin phác họa bức tranh việc làm lại không mấy sáng sủa. Hằng năm, theo thống kê chưa đầy đủ, có đến hàng chục nghìn sinh viên vừa ra trường đã xác định thất nghiệp; nhiều cử nhân, cả thạc sĩ, tiến sĩ sau một thời gian xoay xở không được phải chấp nhận làm trái ngành, trái nghề.

Trong rất nhiều nguyên nhân của tình trạng này, có căn nguyên là bởi công tác tổ chức đầu vào, xác định chỉ tiêu bấy lâu phó mặc cho các cơ sở giáo dục là điều bất hợp lý. Thêm vào đó, công tác phân luồng hướng nghiệp chưa thật sự được coi trọng; trong khi vấn đề quy hoạch nhân lực, dự báo việc làm lại rất xa thực tế.

Nhằm khắc phục những bất cập, nhiều đại biểu Quốc hội (ĐBQH) đã đồng tình với những điểm sửa đổi, bổ sung tại khoản 1, khoản 3 Điều 34 của dự thảo Luật GDĐH (sửa đổi). Trong đó, quy định rõ về Chỉ tiêu tuyển sinh: “Chỉ tiêu tuyển sinh được xác định theo ngành, nhóm ngành đào tạo trên cơ sở nhu cầu lao động của thị trường, yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và phù hợp với các điều kiện về số lượng và chất lượng đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất, tỷ lệ có việc làm của sinh viên tốt nghiệp của cơ sở GDĐH và các điều kiện bảo đảm chất lượng khác,...”, đồng thời siết trách nhiệm: “Cơ sở GDĐH vi phạm quy định về tuyển sinh thì bị xử lý theo quy định của pháp luật và không được tự xác định chỉ tiêu trong 5 năm, kể từ ngày phát hiện vi phạm”.

Xuất phát từ đòi hỏi của thực tiễn về công tác kiểm định chất lượng, phân tầng xếp hạng, “tự chủ đại học” cũng là nội dung quan trọng và là mục tiêu chính của việc sửa đổi Luật lần này. Báo cáo thẩm tra dự thảo Luật của Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội đã cho thấy, cùng với việc giao quyền tự chủ cho cơ sở GDĐH thì trách nhiệm quản lý nhà nước có nhiều thay đổi, chuyển từ quản lý sang tạo hành lang pháp lý, giám sát.

Còn những băn khoăn

Không chỉ tại nghị trường Quốc hội, trước đó, dự thảo Luật GDĐH (sửa đổi) cũng đã nhận được nhiều ý kiến góp ý xác đáng từ các chuyên gia, nhà khoa học. Chỉ ra nhiều điểm còn bất cập của dự thảo Luật, Hiệp hội các trường đại học, cao đẳng Việt Nam trong văn bản kiến nghị của mình đã đề cập tới vấn đề, Luật chưa quy định rõ về triết lý giáo dục đại học. Đáp lại, trong văn bản trả lời Hiệp hội, Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội cho rằng “triết lý giáo dục nói chung - triết lý giáo dục đại học nói riêng - là khái niệm còn có rất nhiều tranh cãi, chưa có sự thống nhất ngay cả trong giới nghiên cứu khoa học về giáo dục nói chung, giáo dục đại học nói riêng”. Vì vậy, “khi chưa đạt được sự thống nhất cao thì chưa nên pháp điển hóa một nội dung còn đang gây tranh cãi”.

Không ít ý kiến các ĐBQH trong quá trình thảo luận tại tổ cũng như ở hội trường đã đặc biệt lưu ý đến sự ảnh hưởng của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra, đòi hỏi mô hình, phương thức đào tạo trong GDĐH cũng phải đổi mới. Hồi âm ý kiến đại biểu, đại diện cơ quan thẩm tra dự thảo luật, ông Phan Thanh Bình cho rằng, hiện nay trong Luật quy định hai mô hình, là trường đại học đơn lẻ và đại học gồm nhóm trường hay tổ hợp trường. Do đó, các trường có thể thành lập các “trường con” để trở thành đại học, hoặc sáp nhập các trường đơn lẻ để thành một trường lớn. Tuy mô hình tổ chức này được kỳ vọng tạo điều kiện để phát triển giáo dục bậc đại học ở nước ta, nhưng còn nhiều ý kiến e ngại việc này sẽ làm cho cả bộ máy đại học chồng chéo, giảm hiệu lực, hiệu quả trong điều hành. Điển hình như hoạt động của ba đại học vùng còn nhiều bất cập, khiến các trường đại học thành viên không phát huy được sức mạnh, mà thậm chí còn triệt tiêu sức mạnh tổng hợp.

Tại Hội thảo “Mô hình giáo dục 4.0 áp dụng, triển khai trong điều kiện tại Việt Nam”, PGS, TS Vũ Hải Quân, Phó Giám đốc ĐH Quốc gia TP Hồ Chí Minh nêu vấn đề, các trường đại học hiện đang “tự trói tay mình” bởi những quy định về việc phát triển, mở mới các ngành, nhóm ngành đào tạo, về định mức học phí bất hợp lý để rồi phải “đẻ ra” nhiều hệ đào tạo khác nhau.

Nhiều chuyên gia giáo dục cho rằng, để phát triển đại học thích nghi với CMCN 4.0, bên cạnh việc cần phải đổi mới mạnh mẽ mô hình quản trị đại học theo hướng tăng tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm, thì cần phải xác định những năng lực, kỹ năng cốt lõi, lựa chọn nội dung, sử dụng cách tiếp cận, phương pháp, kỹ thuật dạy học phù hợp, tăng tính trải nghiệm cho người học, nhằm đáp ứng nhu cầu thực tế của xã hội hiện nay.

HỒNG ĐỨC - NGUYÊN MINH