kỷ niệm 70 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27-7-1947 – 27-7-2017)

Dòng tên anh khắc vào đá núi

Thứ Bảy, 15/07/2017, 03:24:55
 Font Size:     |        Print
 

CCB Lê Thành Công (đứng giữa) cùng đồng đội thăm Nghĩa trang Liệt sĩ Vị Xuyên (Hà Giang).

LTS - Vị Xuyên là mặt trận khốc liệt nhất trong cuộc Chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới phía bắc (1979-1989). Tại đây hàng nghìn chiến sĩ đã anh dũng hy sinh, đến nay nhiều liệt sĩ chưa biết tên, chưa tìm thấy hài cốt. Nhân 70 năm Ngày Thương binh – Liệt sĩ, 33 năm Ngày Giỗ trận Vị Xuyên (12-7-1984 – 12-7-2017), Phóng viên Báo Nhân Dân cuối tuần đã theo chân các cựu chiến binh (CCB) thăm lại chiến trường xưa. Dưới đây là hồi ức của CCB Lê Thành Công thuộc đơn vị đặc công 821 (Quân khu 2), người trực tiếp tham gia trận chiến ngày 12-7 năm ấy.

Hang Làng Lò thuộc xã Thanh Thủy (Vị Xuyên, Hà Giang) từ lâu đã trở thành một địa danh quen thuộc. Bộ đội từ các đơn vị, binh chủng trong toàn quân, hầu như đều đã có mặt ở đây. Các anh nói vui: “Làng Lò là Thủ đô của lính”. Suốt mười năm ròng của cuộc Chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới phía bắc (1979-1989), những gian khổ hy sinh, những buồn vui của người lính biên cương đã hằn sâu, tạc vào vách đá.

Từ những ngày đầu tháng 5-1984, khi cuộc chiến đấu ở Vị Xuyên bước vào giai đoạn ác liệt. Đơn vị đặc công 821 (Quân khu 2) đã lần lượt đưa các tiểu đoàn từ Lào Cai sang, trong đó có D406 chúng tôi. Đại bản doanh của Trung đoàn bộ lúc đó, đặt ở xã Phương Độ. Các chiến đấu viên đều được chỉ huy lựa chọn kỹ, mỗi một mũi luồn sâu cũng chỉ biên chế trên dưới hai chục người. Thông thường, cán bộ tiểu đoàn hoặc đại đội trực tiếp tham gia làm mũi trưởng. Anh em có vinh dự trực tiếp tham gia chiến đấu khi ấy, chủ yếu là số lính cũ, nhập ngũ những năm 78 - 80 của tiểu đoàn nhưng nòng cốt, vẫn là lính C8, được tập kết về hang Làng Lò từ cuối tháng 6, làm công tác chuẩn bị.

Hang có hai tầng, đặc công 406 được ưu tiên ở ngay cửa hang tầng dưới. Nước của con suối nhỏ trong hang chảy lờ đờ, có mầu hanh vàng, bốc mùi tanh lạnh lẽo. Cứ vài ba anh em túm tụm với nhau vào một nhóm, nằm chung một chăn. Tôi cùng với anh Định và Dũng hợp thành một tổ ba người.

Trong hang thiếu ánh sáng, lại đói rau xanh. Lính mình bị đi kiết, mắc sốt rét và bệnh ngoài da nhiều lắm. Thi thoảng có quà thuốc lào Vĩnh Bảo gửi vào là lại “tụm năm túm ba” với nhau.

Chỉ còn hơn một ngày chuẩn bị là đơn vị bước vào trận đánh lớn, mang tên Chiến dịch MB84. Trong lúc mũi đặc công của D406 chúng tôi đang tập trung nghiên cứu các phương án tác chiến trên sa bàn thì đoàn của cơ quan Trung đoàn bộ gồm Trung tá, Trung đoàn trưởng Phí Huy Điệp, Thiếu tá Nguyễn Bá Mong - Tham mưu trưởng, Phó Trung đoàn trưởng cùng Trưởng ban tác chiến, xuống thăm và động viên.

Trước ngày xung trận, anh em trong các mũi luồn sâu cơ bản đã hoàn thành xong công tác chuẩn bị. Mũi của tôi do anh Thi trực tiếp làm mũi trưởng, được giao nhiệm vụ đánh chiếm mỏm phía tây bình độ 233. Các mục tiêu: Nhà chỉ huy, Trung tâm thông tin và kho hậu cần của địch được lên phương án đánh chiếm chi tiết cho các tổ, nhóm. Còn mỏm phía đông, địch tập trung nhiều loại hỏa lực mạnh, công sự kiên cố. Quân địch cảnh giới cao độ.

Tổ của tôi gồm có tôi, Định và Dũng. Vẫn nguyên ba người cùng ăn ngủ với nhau suốt những ngày ở trong hang, lại được cùng kề vai sát cánh bên nhau. Tổ tôi có nhiệm vụ đánh chiếm Trung tâm chỉ huy của địch. Ba anh em, cùng hàm vị như nhau. Đều mang lon Hạ sĩ - Tiểu đội trưởng. Tôi nhiều tuổi đời, tuổi quân hơn cả nên được chỉ huy giao làm Tổ trưởng. Anh Định và Dũng đều là lính từ tháng 2-1982, được huấn luyện bài bản ở E113 - đặc công của bộ, về 821 từ cuối năm 1982. Định người Văn Chấn (Yên Bái). Mấy hôm trước còn mong: “Bao giờ ra quân, mời các đồng hương về nhà chơi, tha hồ mà ăn cá!”.

Tôi nhắc nhở Định và Dũng kiểm tra lại trang bị, vũ khí cá nhân. Ngoài dao găm, lựu chạm nổ, súng AK báng gấp, Định còn phải mang theo B41. Trận ấy, đặc công mặc quần áo rằn ri, có đính một chiếc băng đỏ ở cánh tay bên trái. Danh tính cá nhân được viết ngắn gọn rồi cất trong lọ Penixilin để lại trong ba-lô.

Trưa 11-7-1984, công việc chuẩn bị hoàn tất. Bữa cơm chiều hôm ấy, cũng chỉ gạo sấy với mắm tôm nhưng ăn sớm hơn mọi ngày một chút. Mọi người nhận lương khô cho bữa tối.

Đúng 17 giờ 5 phút, được lệnh xuất phát. Thiếu tá Nguyễn Công Tròn - Chính ủy Trung đoàn đứng sẵn ở cửa hang đón ngõ. Mũi của tôi do anh Thi làm mũi trưởng dẫn đầu. Đội hình hàng một chậm rãi qua cửa hang, rồi ngược dốc Công binh.

Trời hôm đó nhiều mây, âm u mù mịt. Mới leo dốc được một đoạn là đã tối mịt. Hàng quân lặng lẽ cắt rừng, len lỏi, bí mật di chuyển đội hình về phía Đồi tròn. Phải mất nhiều giờ đồng hồ, mũi luồn sâu của chúng tôi mới tới vị trí tập kết. Điểm này còn cách địch không xa nữa, anh Thi truyền lệnh nghỉ tại chỗ, hội ý chớp nhoáng. Bộ phận trinh sát kiểm tra lại mục tiêu. 5 phút, 10 phút, rồi 15 phút qua nhanh. Không gian toàn mặt trận thật là yên tĩnh. Thi thoảng lại thấy lóe lên mấy tia chớp loằng ngoằng ở phía tây nam bình độ 300. Anh em trinh sát trở về báo cáo tình hình xong. Mũi trưởng chỉ tay về các hướng ra hiệu lệnh. Các tổ nhóm thận trọng tiếp cận mục tiêu. Từ khu vực này, địch cài mìn dày đặc. Chỉ sơ sảy một chút, là có thể thương vong và sẽ bị lộ.

Tôi, Định và Dũng bình tĩnh, tự tin tiến về phía nhà chỉ huy của địch. Mò mẫm trên địa hình điểm cao núi đá có phần trống trải, Định chỉ tay xuống chân ra hiệu giày bị rách, chảy máu. Băng cho Định xong, tôi ra hiệu cho cả hai là phải bước bàn chân vào đúng vị trí bước chân của người đi trước. Không được để phát ra tiếng động, vì đã rất gần địch.

Trời đã sang canh, lúc đó khoảng 2 - 3 giờ sáng của ngày 12-7-1984. Các tổ nhóm của mũi luồn sâu 406 mỏm phía tây 233 đã bí mật lót sát mục tiêu, sẵn sàng chờ lệnh nổ súng. Anh Thi trở lại cùng tổ, chỉ tay về phía địch và giơ đồng hồ cho tôi xem, chiếc kim dài chậm chạp chạy qua từng con số. Tất cả đang chờ đợi “giờ G”. Chẳng biết tâm trạng mọi người lúc đó thế nào, chứ với tôi quả thật là rất khó tả. Trong tích tắc, gió rừng thổi lao xao. Một tiếng nổ thật lớn từ sườn phía đông bình độ 300 đã xé toang bầu không khí yên tĩnh của toàn mặt trận. Và theo quy ước, thì giờ G đã điểm, các tổ mũi nhanh chóng chiếm lĩnh mục tiêu.

Một phút hiếm hoi sau trận đánh, cơn mưa rào chợt đến chợt đi. Định quay sang tôi kêu đói. Phong lương khô 702 duy nhất là khẩu phần bữa tối hôm trước được bóc ra. Tôi đưa cho Định, Dũng mỗi đứa một thanh. Vừa đánh vừa ăn. Tôi còn nhớ, anh Thi có quay trở lại chỗ tôi thì thào: “Tường hy sinh rồi” và giao cho tôi khẩu M79 rồi chỉ tay về phía mục tiêu bên trái mỏm phía đông: “Sẵn sàng chờ lệnh”.

Bất ngờ, tôi chỉ còn kịp nhận ra, có một tia chớp lóe lên ở thái dương bên phải và không nhận biết được gì nữa. Sau khi về điều trị ở Quân y viện 93 thì mới được nghe kể lại. Định hy sinh ngay tại trận, tay vẫn còn nắm chặt thanh lương khô. Dũng bị dập nát chân trái, sau bị nhiễm trùng, phải cắt. Tôi may mắn chỉ bị sức ép và mảnh nhỏ vào đầu và ngực, ngất đi. Hai ngày sau, anh em mới được đồng đội cõng về Trạm phẫu. Người cõng tôi là anh Sơn, lính 80 quê Vĩnh Phú. Nghe đâu, sau trận ấy, Sơn tiếp tục tham gia chiến đấu và cũng đã hy sinh…

Đã hơn 30 năm trôi qua, nay tôi mới có dịp trở lại thăm chiến trường xưa và đi tìm đồng đội. Hang Làng Lò đã có phần bị biến dạng. Các điểm cao đã phủ kín mầu xanh cùng với những công trình mới được xây dựng. Sự sống đã hồi sinh. Mảnh đất biên cương đẫm máu đồng đội năm xưa đã thay da đổi thịt. Chỉ tiếc rằng, tôi vẫn chưa gặp lại được những bóng hình đồng đội thân yêu. Nghĩa trang Liệt sĩ Vị Xuyên có nhiều phần mộ còn chưa biết tên. Có bia mộ của liệt sĩ bị ghi sai đơn vị. Hàng nghìn đồng đội đang còn nằm rải rác đâu đó trên các điểm cao, dưới thung sâu, khe núi hay trong lòng suối.

Nhớ lại mà buốt nhói trong tim, nhưng cũng rất đỗi tự hào.

KHÚC HỒNG THIỆN (ghi)

Chia sẻ