Tạo dựng chuỗi sản xuất rau an toàn

Thứ Bảy, 08/12/2018, 12:37:01
 Font Size:     |        Print
 

Ðến nay cả nước đã xây dựng thành công 746 mô hình chuỗi cung ứng nông, lâm, thủy sản an toàn. Trong ảnh: VinEco đã trở thành thương hiệu được người tiêu dùng lựa chọn. Ảnh: NHƯ BIỂN

Những mô hình từ trang trại đến bàn ăn đã phần nào giúp gia tăng số người dân được sử dụng sản phẩm rau an toàn (RAT). Tuy nhiên, cơ hội không chia đều cho số đông người dân bởi quãng đường để có được RAT còn quá nhiều nút thắt. Giải tỏa điểm nghẽn đầu tư phải bắt đầu từ tháo gỡ cơ chế, chính sách, từ việc xác định vị trí của người nông dân, của doanh nghiệp trong chuỗi mắt xích sản xuất hàng hóa này.

Con số 50% nói lên điều gì?

Người đứng đầu Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN và PTNT), Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường cảm thấy vui khi chia sẻ về kết quả ban đầu của quá trình tái cơ cấu nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị sản xuất, hình thành vùng sản xuất hàng hóa tập trung trong đó lấy ứng dụng công nghệ cao (CNC) vào sản xuất làm then chốt. Nhờ đó, chỉ tính riêng đối với ngành rau quả, chúng ta đã có những bước tăng trưởng nhanh đưa giá trị xuất khẩu lên đến 3,43 tỷ USD trong 10 tháng của năm 2018. Xu hướng sản xuất RAT theo các tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP, rau hữu cơ... có truy xuất nguồn gốc, được Nhà nước cấp đăng ký sản xuất, kinh doanh đang được nhân rộng. Một số địa phương có diện tích trồng RAT lớn là Hà Nam, Nam Ðịnh, Thái Bình, Hà Nội, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Tuyên Quang...

Thế nhưng, cũng theo thống kê của Bộ NN và PTNT, đến nay cả nước đã xây dựng thành công 746 mô hình chuỗi cung ứng nông, lâm, thủy sản an toàn. Ðiều đáng nói ở chỗ, số lượng các chuỗi được xác nhận an toàn này mới chỉ đạt khoảng 50% so với nhu cầu thực tế. Nhìn trên bình diện chung, việc ứng dụng CNC vào sản xuất nông nghiệp mới dừng ở quy mô các tập đoàn, doanh nghiệp, chưa lan tỏa mạnh mẽ xuống các hợp tác xã (HTX) hộ kinh doanh nhỏ và vừa. Cũng vì thế mà, công tác quản lý sản xuất RAT hiện nay rất khó khăn, nhất là đối với các hộ nông dân sản xuất quy mô nhỏ, phân tán.

Kênh tiêu thụ RAT còn hạn chế nên người sản xuất chưa bán được theo đúng giá trị. Vẫn còn thiếu sự liên kết chặt chẽ giữa DN đầu tư sản xuất, kinh doanh rau, các HTX, do chưa hài hòa lợi ích giữa các bên, cho nên tồn tại tình trạng các hợp đồng thường bị phá vỡ. Quy trình sản xuất của người nông dân mang tính đại trà, không có hóa đơn, không bao tiêu, không có kế hoạch. Người nông dân muốn gì trồng nấy, nên khi sản xuất dư thừa thì dễ bị ép giá. Sản phẩm không bán được thì phải đổ bỏ do không có nhà máy chế biến… Bên cạnh đó, số hoạt chất thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) có mặt trên thị trường không ngừng tăng lên, cũng khiến cho việc kiểm soát dư lượng thuốc tồn dư trong sản phẩm càng trở nên khó khăn.

Theo bà Nguyễn Thị Thoa, Trưởng phòng Trồng trọt - Sở NN và PTNT Hà Nội, việc sản xuất và bảo quản rau hiện đang đòi hỏi chi phí cao nên khó cạnh tranh với rau trôi nổi trên thị trường. Trong khi đó, nguồn vốn đầu tư vào lĩnh vực này còn hạn chế. Ðể có thể đưa RAT đến người tiêu dùng và làm họ tin tưởng RAT, đòi hỏi phải kiểm soát được chất lượng, xuất xứ, nguồn gốc. Nhưng lại có nghịch lý là, toàn TP Hà Nội có hơn 12 nghìn héc-ta trồng rau nhưng chỉ khoảng nửa diện tích được cấp chứng nhận đủ điều kiện an toàn thực phẩm. Chúng ta không thể kiểm soát được hệ thống tiêu thụ phân phối vì chủ yếu rau theo các chợ đầu mối; bán lẻ tại các chợ dân sinh; bán cho các thương lái thu gom…, bà Thoa cho biết.

"Bà đỡ" chính sách

Nói về sản xuất RAT, thì hiện Lâm Ðồng đang là một trong những địa phương đi đầu cả nước về sản xuất nông nghiệp CNC, nhờ chính sách ưu đãi khuyến khích thu hút nguồn lực, tích tụ ruộng đất. Ðến nay Lâm Ðồng đã và đang triển khai quy hoạch một khu nông nghiệp ứng dụng CNC, một khu công nghiệp nông nghiệp, bảy khu nông nghiệp tập trung và 19 vùng nông nghiệp ứng dụng CNC, tăng năng suất và độ an toàn cho sản phẩm.

Chia sẻ kinh nghiệm, TS Phạm S, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Ðồng, đồng thời là một chuyên gia về nông nghiệp, nêu: Chúng ta cần lấy doanh nghiệp làm nòng cốt, lấy nông dân làm chủ thể, lấy khoa học - công nghệ là then chốt, lấy liên kết sản xuất để phát triển bền vững; phải làm cho nông dân và doanh nghiệp thật sự làm giàu từ nông nghiệp ứng dụng CNC thì chương trình mới thành công và tạo sự lan tỏa.

Muốn kéo doanh nghiệp vào đầu tư bài bản thì cần phải giải quyết bài toán tích tụ ruộng đất đủ để hình thành những vùng trồng RAT áp dụng khoa học - công nghệ trong sản xuất, kinh doanh với quy mô lớn. Bởi theo PGS,TS Trần Kim Chung, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương: "Phần lớn đất nông nghiệp đang nằm trong tay nông dân, nhưng họ không có khả năng quy hoạch vùng và không đủ nguồn lực đầu tư phát triển sản xuất quy mô lớn. Do đó, Nhà nước và các bộ, ngành cần có cơ chế điều chỉnh chính sách đất đai, giúp địa phương tích tụ ruộng đất, tạo tiền đề cho doanh nghiệp đưa ứng dụng khoa học vào sản xuất".

Bàn về vấn đề này, chuyên gia kinh tế Vũ Vinh Phú, nhấn mạnh tới mối liên kết giữa người nông dân và doanh nghiệp trong tương quan doanh nghiệp là bên nắm bắt nhu cầu thị trường - nông dân sản xuất theo đặt hàng của DN. Mối liên kết này phải bảo đảm hai bên cùng có lợi, DN không được bỏ rơi người nông dân, không giành việc của họ, giúp họ làm giàu và tăng thêm thu nhập.

Ðồng thời, cũng cần nhân rộng mô hình Hợp tác xã kiểu mới (kết hợp kinh doanh theo Luật HTX năm 2012) và mô hình liên kết giữa nhóm hộ sản xuất với doanh nghiệp tiêu thụ. Ở đó, người nông dân được tập huấn, hướng dẫn áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất RAT theo tiêu chuẩn VietGAP. Nhiệm vụ của lãnh đạo HTX là xây dựng kế hoạch sản xuất, tìm nguồn vốn đầu tư và thu mua 100% sản phẩm cho xã viên. Ngược lại, xã viên có trách nhiệm thực hiện theo kế hoạch sản xuất và thực hiện đúng quy trình quy phạm kỹ thuật trồng trọt được hướng dẫn.

Rõ ràng, một thể chế kiến tạo và sự vào cuộc mạnh mẽ của các bên trong chuỗi sản xuất, tiêu thụ là yếu tố quyết định của nền nông nghiệp Xanh, an toàn. Ðó là đích đến, hay đúng hơn là quyền lợi chính đáng của những người dân của một đất nước vốn có tỷ lệ tăng trưởng không nhỏ từ nông nghiệp.

Quy hoạch vùng rau sạch, bao giờ?

Ðể trả lời câu hỏi này, trước hết cần thực hiện quy hoạch quỹ đất tại các khu nông nghiệp ứng dụng khoa học. Trên cơ sở đó, hỗ trợ đầu tư hạ tầng cho các vùng nông nghiệp ứng dụng CNC, hỗ trợ kinh phí đào tạo, tập huấn, khuyến nông, quy hoạch chi tiết từng loại cây trồng vật nuôi có lợi thế nằm trong vùng đất sẵn có của nông dân, định hướng trách nhiệm của nông dân trong sản xuất nông nghiệp ứng dụng CNC…

Ngày một nhiều doanh nghiệp, hợp tác xã đi theo con đường tích tụ ruộng đất để đưa khoa học - công nghệ vào sản xuất quy mô lớn.

LÝ HÀ