Thực hiện đồng bộ các giải pháp giảm nghèo bền vững

Thứ Tư, 17/10/2018, 04:24:30
 Font Size:     |        Print

Quyết định số 1722/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ xác định rõ các mục tiêu cơ bản: đến năm 2020 giảm tỷ lệ hộ nghèo cả nước bình quân 1% đến 1,5%/năm; các huyện nghèo, xã nghèo giảm 4%/năm; hộ nghèo dân tộc thiểu số giảm 3% đến 4%/năm. Phấn đấu 50% số huyện nghèo thoát khỏi tình trạng đặc biệt khó khăn theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP. 30% số xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo, 20% đến 30% số xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn vùng dân tộc và miền núi thoát khỏi tình trạng đặc biệt khó khăn.

Để thực hiện các mục tiêu nêu trên, Quốc hội đã phê duyệt đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016 - 2020 với tổng kinh phí hơn 48 nghìn tỷ đồng, tập trung nguồn lực đầu tư chủ yếu cho các địa bàn nghèo thông qua năm dự án. Đó là Chương trình 30a; Chương trình 135; Dự án hỗ trợ phát triển sản xuất, đa dạng hóa sinh kế, nhân rộng mô hình giảm nghèo; Dự án truyền thông, thông tin; Dự án nâng cao năng lực và giám sát, đánh giá nhằm giảm bớt khoảng cách chênh lệch giàu nghèo giữa các vùng miền. Ngoài ra, các chính sách giảm nghèo thường xuyên, như hỗ trợ y tế, giáo dục, nhà ở, đất ở, đất sản xuất, nước sạch, vệ sinh, thông tin, hỗ trợ tín dụng, pháp lý… luôn được Chính phủ, các bộ, ngành quan tâm hoàn thiện. Cùng với đó là các chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên và đột xuất được ban hành, đã hỗ trợ tích cực cho các gia đình gặp thiên tai, lũ lụt… sớm ổn định cuộc sống, hạn chế rơi vào tình trạng hộ nghèo hoặc tái nghèo. Thông qua sự vận động của MTTQ Việt Nam và các tổ chức, đoàn thể xã hội, nhiều chương trình trợ giúp từ các doanh nghiệp, cá nhân, các nhà hảo tâm đối với người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn được thực hiện, tạo sự lan tỏa mạnh mẽ trong xã hội cùng quan tâm hướng tới người nghèo.

Nhờ thực hiện tốt các chủ trương, chính sách, đặc biệt là ý thức nỗ lực vươn lên của người nghèo, nên kết quả giảm nghèo từ năm 2016 đã có nhiều chuyển biến rõ rệt. Đến nay, tỷ lệ hộ nghèo bình quân cả nước giảm từ 9,88% năm 2015 xuống còn 6,7% vào cuối năm 2017. Tỷ lệ hộ nghèo dân tộc thiểu số giảm từ 39,61% cuối năm 2016 xuống còn 35,28% cuối năm 2017. Đã có tám huyện 30a thoát nghèo theo Quyết định số 275 của Thủ tướng Chính phủ, 17 xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo và 21 xã đặc biệt khó khăn thuộc Chương trình 135 thoát khỏi tình trạng đặc biệt khó khăn.

Có thể khẳng định, hệ thống chính sách giảm nghèo đã từng bước được hoàn thiện theo hướng hỗ trợ có điều kiện, không tạo tư tưởng trông chờ ỷ lại, khơi dậy ý chí vươn lên của người nghèo. Từ nguồn lực đầu tư của Nhà nước và cộng đồng đã làm cho diện mạo các huyện, xã, hộ gia đình nghèo thoát nghèo và có bước thay đổi rõ rệt. Kết quả này góp phần ổn định, phát triển kinh tế - xã hội trên từng địa bàn thôn, bản, xã, góp phần hoàn thành tiêu chí nông thôn mới ở những vùng đặc biệt khó khăn, từng bước thu hẹp khoảng cách chênh lệch về mức sống giữa các địa bàn, nhóm dân cư.

Chương trình giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016 - 2020 đến nay đã thực hiện được hơn nửa chặng đường. Bên cạnh những thành tích đạt được, vẫn còn những hạn chế nhất định. Tỷ lệ tái nghèo còn ở mức 5,1%/năm, nhiều hộ nghèo mới phát sinh, chênh lệch giàu - nghèo giữa các vùng, nhóm dân cư chưa thật sự được thu hẹp; tỷ lệ hộ nghèo ở các huyện nghèo, xã đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc nhiều nơi vẫn còn hơn 50%, cá biệt lên 60 đến 70%. Tỷ trọng hộ nghèo dân tộc thiểu số chiếm hơn 50% tổng số hộ nghèo cả nước.

Chỉ còn hai năm nữa, Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016 - 2020 cán đích. Để có thể hoàn thành mục tiêu đề ra, thời gian tới, cơ quan chức năng cần tiếp tục rà soát, sửa đổi, bổ sung chính sách giảm nghèo, tích hợp chính sách thuộc các lĩnh vực bảo đảm đồng bộ, hiệu quả, dễ theo dõi, thực hiện. Trong đó, tập trung ba nhóm chính sách: hỗ trợ phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập cho hộ nghèo; hỗ trợ hiệu quả người nghèo tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản, ưu tiên các dịch vụ thuộc nội dung giảm nghèo đa chiều như y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch, vệ sinh, thông tin; phát triển hạ tầng các vùng khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo cao. Căn cứ các chính sách giảm nghèo hiện hành, từ nguồn lực đầu tư của Nhà nước, các địa phương tổ chức phân loại đối tượng hộ nghèo, xác định nhu cầu hỗ trợ, tổ chức để hộ nghèo đăng ký phấn đấu thoát nghèo, từ đó có giải pháp hỗ trợ tạo sinh kế, vay vốn tín dụng ưu đãi, đào tạo nghề, tạo việc làm, xuất khẩu lao động. Phân công đảng viên, các tổ chức chính trị, đoàn thể cơ sở theo dõi giúp đỡ; tăng cường nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác xóa đói, giảm nghèo cấp xã, huyện. Gắn chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững với thực hiện quy chế dân chủ cơ sở, tăng cường phân cấp cho cơ sở, chủ động trong lập kế hoạch, điều hành quản lý các hoạt động của chương trình. Đẩy mạnh hoạt động hỗ trợ hộ nghèo, hộ cận nghèo, mới thoát nghèo, ưu tiên người nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số thông qua hệ thống chính sách giảm nghèo. Thực hiện đa dạng nguồn vốn huy động, tăng cường huy động vốn từ ngân sách địa phương và các nguồn đóng góp hợp pháp của doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân. Thực hiện nhân rộng các mô hình giảm nghèo hiệu quả, phát huy các sáng kiến giảm nghèo dựa vào cộng đồng... Nhân rộng các mô hình hợp tác, liên kết giữa hộ nghèo với doanh nghiệp trong sản xuất, bao tiêu sản phẩm, thu hút lao động nghèo làm việc trong các doanh nghiệp.

PHÚC QUÂN

Chia sẻ