Nâng cao chất lượng của dòng vốn FDI

Thứ Tư, 11/07/2018, 04:08:07
 Font Size:     |        Print

Việt Nam đang chuẩn bị tổng kết 30 năm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào cuối năm nay. Vấn đề đánh giá sự lan tỏa của vốn ngoại đối với kinh tế - xã hội tiếp tục được quan tâm.

Nội dung này dự kiến sẽ được đưa vào Báo cáo tổng kết 30 năm thu hút FDI do Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổng hợp. Đây cũng là nội dung được Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam (VBF) giữa kỳ năm 2018 một lần nữa đưa vào chương trình nghị sự để thảo luận, đề xuất các giải pháp thúc đẩy thực hiện.

Trải qua 30 năm với nhiều làn sóng đầu tư, đến nay, khu vực FDI đã trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế Việt Nam, thông qua sự góp mặt của 26 nghìn dự án đầu tư còn hiệu lực, với tổng số vốn đăng ký đạt hơn 326 tỷ USD, vốn thực hiện đạt hơn 180 tỷ USD. Đóng góp của khu vực FDI vào kinh tế - xã hội Việt Nam ngày càng đáng kể, tương đương khoảng 25% tổng vốn đầu tư toàn xã hội và khoảng 20% GDP.

Các doanh nghiệp (DN) FDI đóng góp tới 72,6% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam, tức là cứ 10 đồng xuất khẩu của Việt Nam thì có tới hơn 7 đồng là của khu vực FDI.

Tuy nhiên, hiệu ứng lan tỏa của khu vực FDI đối với các lĩnh vực của nền kinh tế lại chưa được như kỳ vọng và cũng là bài toán khó đối với các nhà hoạch định chính sách. Trên thực tế, hầu hết quốc gia đang phát triển đều thiết kế chính sách khuyến khích chuyển giao công nghệ từ các DN FDI cho khu vực trong nước, qua đó cải thiện năng lực công nghệ, năng lực cạnh tranh và cuối cùng là năng suất lao động của DN trong nước, nhưng Việt Nam chưa đạt được mục tiêu này. Lấy một thí dụ từ Samsung - một điển hình thành công về thu hút FDI. Sau 10 năm đầu tư vào Việt Nam, Samsung đã tạo lập được hơn 200 nhà cung ứng cấp 1 (cung ứng trực tiếp cho Samsung) nhưng chỉ có 29 DN Việt Nam. Một số DN trong nước vào được chuỗi cung ứng nhưng chủ yếu dừng ở khả năng cung cấp bao bì, vỏ hộp, ốc vít... Nói như TS Vũ Thành Tự Anh, Giám đốc nghiên cứu Chương trình giảng dạy kinh tế Phun-brai, tính lan tỏa của DN FDI tới DN trong nước còn rất hạn chế. Đầu tư nước ngoài là quan trọng, nhưng đóng góp như thế nào cho nền kinh tế còn quan trọng hơn. Việt Nam hội nhập, nhưng đừng là điểm trung gian để các DN FDI xuất khẩu nhờ.

Trong khi DN nội địa cho rằng, đối tác ngoại không chịu chia sẻ, hợp tác giúp tham gia vào chuỗi sản xuất, cùng hợp tác vì lợi ích chung thì các DN nước ngoài lại cho rằng, sự thiếu liên kết này có nguyên nhân từ thực trạng yếu kém về năng lực của các DN trong nước. Thể hiện ở quy mô DN Việt Nam còn quá nhỏ, thiếu kiến thức và kinh nghiệm trong tiếp thị sản phẩm có chất lượng, giá hợp lý, không đủ điều kiện tham gia vào chuỗi liên kết khiến các DN FDI vẫn phải sử dụng nhà cung cấp ngoại.

Để nâng cao chất lượng thu hút dòng vốn FDI, một trong những vấn đề then chốt là nâng cao tính liên kết giữa các DN trong nước và DN nước ngoài, hướng tới mục tiêu chung. Về phía DN FDI cần chủ động tạo điều kiện cho DN Việt Nam có cơ hội từng bước tham gia vào chuỗi giá trị, thông qua các chương trình tư vấn, hợp tác cụ thể cho DN Việt Nam. Đối với DN trong nước phải nỗ lực đổi mới tư duy quản lý theo hướng hiện đại, tiếp cận công nghệ tiên tiến, nâng cao kỹ năng và trình độ lao động, tăng năng lực sản xuất, chất lượng sản phẩm và năng lực cạnh tranh. Hiện nay, Chính phủ đang nỗ lực để phát triển ngành công nghiệp phụ trợ và nuôi dưỡng các DN vừa và nhỏ ngành chế tạo. Thời gian tới, Chính phủ cần có các biện pháp thiết thực, nhằm tạo điều kiện và hỗ trợ cho sự liên kết giữa DN trong nước và DN nước ngoài một cách hiệu quả, dễ tiếp cận. Có chính sách hướng các DN lớn từ bỏ bất động sản, đặt nền tảng cho các ngành công nghiệp và công nghệ hiện đại, tích tụ thành những DN có đủ khả năng tham gia vào những hoạt động kinh doanh phức tạp hơn.

TÔ HÀ

Chia sẻ

TIN BÀI CÙNG CHUYÊN MỤC