Lắng nghe “tiếng nói” của di sản

Thứ Năm, 17/05/2018, 19:56:50
 Font Size:     |        Print

Bên cạnh một số thành tựu đạt được trong thời gian qua, việc bảo tồn, phát triển các di sản văn hóa tinh thần (phi vật thể) được UNESCO ghi danh hoặc được Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch công nhận ở cấp độ quốc gia vẫn đang gặp không ít khó khăn. Là một chuyên gia tâm huyết, có nhiều năm nghiên cứu về bảo tồn di sản phi vật thể, nhà nghiên cứu văn hóa NGUYỄN HÙNG VỸ đã có bài viết về vấn đề này. Sau đây là nội dung bài viết.

Theo Công ước của UNESCO về trách nhiệm đối với Di sản đã được ghi danh, có bốn điểm được lưu ý là cần: Thấu hiểu - Bảo tồn - Phát triển - Quảng bá. Ðó cũng là bốn công việc cần tiến hành đồng bộ đối với một di sản, dù là di sản đại diện hay di sản cần bảo vệ khẩn cấp. Mục tiêu, nhiệm vụ của UNESCO là bảo đảm một thế giới đa dạng về văn hóa, cũng như cần đa dạng về sinh thái. Việc ghi danh mỗi di sản đồng thời cũng là trao trách nhiệm cho chủ nhân của di sản đó. Song đáng tiếc là trong xã hội hiện nay vẫn có những nơi, một số người lại không thấy rõ trọng trách đó, mà thiên về quan niệm đó là "vinh danh" là một thứ danh vọng dẫn đến nảy sinh việc "chạy" di sản như là một yếu tố phi văn hóa.

Về sự thấu hiểu: Thấu hiểu mỗi di sản văn hóa là một quá trình lâu dài của cả cộng đồng. Sự thấu hiểu này diễn ra cùng sự tồn tại của cộng đồng đó. Chúng tôi đã chứng kiến không ít di sản mà về nguồn gốc, quá trình phát triển, giá trị văn hóa… chưa được hiểu sâu sắc, cặn kẽ. Thậm chí, để "vinh danh", người "chạy di sản" có thể đưa ra các thông tin không đúng với sự thực, hiện trạng. Tiếp cận hồ sơ của một số di sản, chỉ ra điều này là không khó khăn, để "trôi việc" không ít người còn ứng xử theo kiểu "chín bỏ làm mười". Thực tế thì có một số cái sai, như sai vì gặp khó khăn về tư liệu, sai về tư tưởng và mục đích của sự thấu hiểu, sai về cực đoan hóa một phương pháp tiếp cận; lại có cái sai trong quá trình tổ chức nghiên cứu, sai vì trình độ người nghiên cứu… Vậy việc cần làm là phải chung lưng đấu cật, luôn phản biện và cộng tác để tiếp cận di sản tốt hơn. Vì điều này quan hệ vô cùng mật thiết với cả ba công việc sau.

Về công việc bảo tồn: Khái niệm văn hóa tối thiểu có các nội hàm như điều kiện văn hóa (tự nhiên, xã hội), hành động văn hóa, thành tựu văn hóa (vật chất, tinh thần), giá trị văn hóa (bao hàm ứng xử văn hóa), bản sắc văn hóa, quá trình văn hóa… Khi tiếp cận văn hóa, nhất là văn hóa tinh thần, chúng tôi rất e ngại dùng khái niệm "gốc" hoặc "nguyên". Ngay với văn hóa vật chất, khái niệm "mẫu vật gốc" cũng được dùng trong tính tương đối khi so với những bản trưng bày. Xin chia sẻ một kỷ niệm khi cùng Nghệ sĩ Ưu tú Vũ Tự Lẫm thăm hỏi nhạc sĩ Hồng Thao tại Suối Hoa (Bắc Ninh) vào năm 1991. Ông là một trong số những người ghi quan họ đáng tin cậy nhất mà tôi biết. Khi tôi muốn xin ý kiến của nhạc sĩ về "mười bài quan họ gốc", ông cười mà rằng: "Bạn hỏi đùa thử tôi đấy à? Làm gì có khái niệm "quan họ gốc". Chỉ có khái niệm "quan họ cổ" đặt ra để chỉ những bài hát đã lưu hành từ năm 1945 trở về trước và một số bài gần đây do nghệ nhân lão luyện đặt lời hoàn toàn theo truyền thống cổ xưa, được nhân dân lưu truyền rộng rãi". Với nhiều di sản gắn với âm nhạc truyền thống khác, sự bảo tồn sẽ phải hướng đến: bài bản cổ, có giá trị, mang bản sắc. Như vậy không có khái niệm "bảo tồn nguyên trạng", hoặc "bảo tồn bản gốc". Tính quá trình của văn hóa khiến chúng ta không thể ngược nguồn về thời gian, không thể tái hiện nguyên vẹn không gian và điều kiện cho di sản. Thực tế trong chọn lọc đời thường, những gì mang giá trị thường được nhiều nơi thừa nhận và còn lại qua thời gian. Chính những giá trị đó mới là điều cốt lõi làm nên bản sắc của di sản.

Với một di sản được ghi danh, ưu tiên tính bản sắc được coi là hàng đầu. Tuy nhiên trên thực tế diễn xướng, lại có một số yếu tố phi giá trị. Vì vậy việc bảo tồn phải có chọn lọc. Thí dụ, trong di sản Thực hành tín ngưỡng Mẫu Tam phủ được UNESCO ghi danh, trong đó chứa đựng yếu tố dễ bị lạm dụng trở thành mê tín, buôn thánh bán thần. Không chỉ bây giờ mà từ xưa nhân dân đã phản ứng lại. Không một xã hội phát triển nào lại cổ vũ, làm sống lại mê tín, mà mọi người đều hướng tới khoa học, kỹ thuật, nhân văn. Tuy nhiên, một số người lợi dụng sự ghi danh của UNESCO để coi đó là sự "chính danh" cho hành vi mê tín. Cái đó đi ngược với pháp luật Việt Nam, cần phải phê phán, sớm loại bỏ. Có nhiều phương pháp để bảo tồn ứng với nhiều mục đích. Ghi chép, mô tả, chụp ảnh, quay phim, đào tạo, phục dựng, tái trình diễn… Tất cả đều trải qua quá trình thấu hiểu chín chắn, quá trình thẩm định giá trị và khẳng định bản sắc. Và một điều không thể thiếu là tinh thần thượng tôn pháp luật.

Về sự phát triển: Bảo tồn gắn chặt với phát triển, không thể tách rời. Mọi nội hàm của khái niệm văn hóa đều mang tính quá trình, luôn luôn vận động trong thời gian và không gian, luôn tiếp biến, tích tụ, thay đổi và phát triển. Mỗi thời điểm ta chứng kiến chỉ là một lát cắt mỏng trong sự vận động lâu dài của chúng. Trong thực tế văn hóa, sự phát triển vừa có tính tự phát vừa có sự điều khiển của thiết chế văn hóa quốc gia. Sự phát triển hết sức đa dạng, nhất là trong thời kỳ hiện đại. Mọi loại hình nghệ thuật đều tham gia vào sự phát triển trên cốt lõi bài bản cổ, cùng giá trị và bản sắc. Ngữ văn, âm nhạc, vũ đạo, hội họa, kiến trúc, điêu khắc, sân khấu, điện ảnh, truyền thông mạng… đều tham gia vào sự phát triển này.

Quan sát trên thực tế có thể thấy một số động thái phát triển như phát triển về môi trường diễn xướng: từ đồng ruộng vào ngõ làng, sân đình, gia đình, hội trường, sân khấu, trận địa, đài phát thanh, truyền hình…; phát triển công năng: từ lao động sang nghi lễ, từ nghi lễ sang trò chơi, từ trò chơi sang vũ đạo, từ vũ đạo sang sân khấu, từ sân khấu sang truyền hình...; phát triển phương thức trình diễn: từ hát đơn sang hát tốp, từ hát chay sang hát có trang âm, từ không nhạc đến có nhạc; phát triển từ tiếp biến văn hóa: chuyển làn, chuyển điệu, bổ sung làn điệu, lời ca vào hệ thống của di sản; phát triển sáng tác: đặt lời cổ, đặt lời mới, sáng tác ca khúc mang phong cách truyền thống, sáng tác sân khấu mới trên tích cổ, vận dụng mọi yếu tố di sản vào các loại hình nghệ thuật khác…

Quá trình phát triển như trên là liên tục, nhất là sự phát triển tự thân trong đời sống nhân dân. Thiết chế văn hóa có trách nhiệm hướng dẫn, chỉ đạo, tạo khuôn khổ để phát triển đúng hướng, sớm đi đến những thành quả có giá trị và mang bản sắc. Trong quá trình phát triển đó, những gì tốt đẹp sẽ tồn tại lâu dài và lại trở thành truyền thống cho mai sau. Với một di sản, không nên e ngại sự phát triển vì đã là di sản thì nó vốn đã có "cơ địa" vững bền trải qua thử thách thời gian rồi. Tính bao dung của một di sản rất mạnh mẽ, nó có thể chấp nhận, thu nạp nhiều tài nguyên tinh thần khác nhau để làm phong phú cho mình.

Về công việc quảng bá: Quảng bá là để mọi người trên thế giới được hưởng thụ những giá trị văn hóa, đặc sắc văn hóa của nhau. Số người hưởng thụ văn hóa nghệ thuật từ các di sản lớn gấp nhiều lần số người hưởng thụ qua nhà hát chuyên nghiệp. Song với tư cách một cộng đồng chủ thể Di sản, sự quảng bá nhằm tôn vinh nhân phẩm, tài năng, giá trị của di sản đó, để đạt đến những biểu tượng cho văn hóa một quốc gia, một địa phương. Một cuốn tiểu thuyết ra đời mà không có người đọc, một vở kịch diễn không có người xem thì bất luận thế nào đều trở nên vô giá trị. Do đó, di sản phải được trình diễn, quảng bá trong xã hội.

Theo đánh giá của nhiều nhà chuyên môn, trong các di sản văn hóa phi vật thể ở Việt Nam được UNESCO ghi danh, hiện nay, Hát Quan họ là di sản đang được bảo tồn, phát triển một cách thuyết phục nhất. Về sự thấu hiểu, đó là hệ thống dân ca được nghiên cứu lâu dài và có kế hoạch bài bản. Về sự bảo tồn, với việc thành lập sớm Ðoàn Quan họ (năm 1968, trước đó gọi là Tổ Quan họ) với cách học truyền miệng trực tiếp từ các nghệ nhân đầu thế kỷ 20 ở tất cả các làng trong vùng nên bài bản được lưu giữ phong phú. Về sự phát triển, Quan họ được trải qua nhiều thể nghiệm những loại hình khác nhau nhất. Về quảng bá, từ rất sớm Quan họ đã tham gia vào tiến trình văn hóa từ thời kháng chiến chống thực dân Pháp tới ngày nay trên mọi phương tiện truyền thông và vươn ra nhiều nước trên thế giới. Từ tương truyền 49 làng Quan họ cổ xưa, hiện nay, trên đất Bắc Ninh có đến hơn 300 nhóm, câu lạc bộ đang hoạt động (chưa kể các câu lạc bộ trên cả nước và ở nước ngoài). Ủy ban Nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã có chính sách đầu tư trên mọi mặt, mỗi làng hát Quan họ loại 1 có thể được số kinh phí hơn 6 tỷ đồng để xây nhà tập hát Quan họ. Hiện nay, đã có ba làng xây xong là làng Diềm, làng Ðặng, làng Lim (xóm Ðồng kinh phí 6,9 tỷ đồng), các nơi đang xây là thị trấn Lim (7,7 tỷ đồng), Thị Cầu đã khởi công, làng Ngang Nội đã duyệt hồ sơ. Từ một miền quê mà những năm 1960 đến 1970, hầu như sinh hoạt hát Quan họ dân gian chỉ còn âm ỉ, nay đã bùng phát mạnh mẽ. Ðây là một hiện tượng cần chúng ta thấu hiểu hơn nữa, vì mỗi thời, di sản có tiếng nói riêng của nó.

Chia sẻ