Hài hòa trong sáng tạo, làm mới lễ hội truyền thống

Thứ Sáu, 01/03/2019, 04:00:37

Thời gian qua, cùng với sự phát triển của đời sống kinh tế - xã hội đất nước từ nhu cầu văn hóa nói chung và nhu cầu tinh thần, tình cảm của một bộ phận công chúng nói riêng, việc phục dựng một số lễ hội truyền thống, nhất là lễ hội nhỏ ở địa phương đang ngày càng được chú ý, quan tâm. Tuy nhiên, việc phục dựng và thực hành các lễ hội truyền thống như thế nào để vừa giữ được ý nghĩa, bản sắc bảo đảm tính truyền thống, vừa có yếu tố làm mới, sáng tạo phù hợp đời sống xã hội đương đại đang là vấn đề được dư luận quan tâm.

Hằng năm, vào dịp trong và sau Tết Nguyên đán thường là thời điểm các lễ hội diễn ra khá dày đặc. Theo thống kê của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, hiện nước ta có hơn 8.000 lễ hội diễn ra trong một năm, trong đó có 7.039 lễ hội dân gian - một hình thức lễ hội gắn bó mật thiết với đời sống văn hóa tinh thần của người dân ở hầu khắp các vùng miền đất nước. Từ sự ra đời và tồn tại của nó, có thể nói lễ hội là dịp thể hiện bản sắc trong sinh hoạt văn hóa của từng vùng, miền, từng cộng đồng nhỏ như làng; đồng thời cũng là nét văn hóa đặc trưng để phân biệt vùng này với vùng khác, địa phương này với địa phương khác. Nếu như trước đây, chỉ các lễ hội lớn mới thu hút nhiều khách du lịch như: lễ hội đền Hùng (Phú Thọ), lễ hội Yên Tử (Quảng Ninh), lễ hội Gióng (Hà Nội), lễ hội Côn Sơn - Kiếp Bạc (Hải Dương), lễ hội chùa Hương (Hà Nội), lễ hội Phủ Dày (Nam Định), lễ khai ấn đền Trần (Nam Định), lễ hội Bà Chúa Xứ (An Giang), lễ hội xuân núi Bà Đen (Tây Ninh),... thì nay nhiều lễ hội nhỏ cũng thu hút đông đảo người dân tham gia. Nhu cầu muốn tìm đến những lễ hội truyền thống, có quy mô khiêm tốn tại các làng quê để được thưởng thức không gian của lễ hội xưa của khá đông du khách hiện nay cũng là một nguyên nhân dẫn đến xu hướng "hồi sinh" các lễ hội nhỏ tại các làng, xã, thôn, bản. Chưa kể, trước thực trạng không ít lễ hội truyền thống bị mai một, đứt đoạn, thậm chí có lễ hội rất lâu không còn được tổ chức, nhiều địa phương và cư dân bản địa đã tìm cách phục dựng, làm mới nhờ vào các tư liệu cổ, hay từ trí nhớ của những người cao tuổi trong làng. Đây không chỉ là cách thức đưa người dân trở lại với cội nguồn, tôn vinh các giá trị văn hóa truyền thống của cộng đồng, ngợi ca nét văn hóa đặc trưng của mỗi làng quê, mà còn gửi gắm tình yêu và niềm tự hào về quê hương, bản quán.

Tuy nhiên, từ đây cũng đặt ra yêu cầu đối với công tác phục dựng lễ hội để vừa bảo đảm tính truyền thống, vừa kết hợp khéo léo các yếu tố sáng tạo, làm mới, bởi chỉ có như vậy việc thực hành lễ hội trong xã hội đương đại mới giữ được bản sắc văn hóa vốn có. Phải nhìn nhận một thực tế rằng việc phục dựng lễ hội không đơn thuần chỉ là làm lại y hệt theo những nghi thức cũ (phục hồi nguyên dạng) mà là kết quả của một quá trình gồm nhiều hoạt động như: nghiên cứu những thực hành cũ, vay mượn hình mẫu, làm mới, sáng tạo các thực hành mới... Tiếp cận một số lễ hội đã và đang được phục dựng, làm mới có thể thấy trước hết là phụ thuộc vào mục đích, quan niệm và nhu cầu cuộc sống hằng ngày của cư dân địa phương và thu hút cư dân ngoài địa phương. Có lễ hội giản tiện phần lễ, kéo dài thời gian hội, nhưng có địa phương lại rút ngắn thời gian hội mà tăng thêm tính trang trọng của các nghi lễ... Chẳng hạn, lễ hội đền Bà Chúa Kho, trước đây chỉ diễn ra trong một ngày với các nghi lễ tế, rước kiệu, rước nước, các trò chơi dân gian. Hiện nay, sau khi được phục hồi, dân làng không còn tổ chức rước, tế lễ tại đền Bà Chúa Kho nữa, mà tất cả những nghi lễ này được tiến hành ở đình, chùa làng Cổ Mễ. Vào ngày giỗ Bà, các bậc cao niên và lãnh đạo địa phương chỉ làm nghi lễ dâng hương, còn lại chủ yếu là khách thập phương đến vãn cảnh, làm lễ xin lộc. Lễ hội đền Bà Chúa Kho cũng không diễn ra trong một ngày như trước kia mà kéo dài suốt ba tháng nhằm phục vụ nhu cầu tâm linh tăng cao trong mấy tháng đầu năm của du khách thập phương...

Những thay đổi về nhu cầu, điều kiện và thực tế xã hội cùng các chủ trương mới cũng đã tác động không nhỏ đến hoạt động tại lễ hội. Tiêu biểu như lễ hội làng Đồng Kỵ (xã Đồng Quan, thị xã Từ Sơn, Bắc Ninh) được tổ chức vào ngày mồng 4 tháng Giêng hằng năm. Đây tuy là một lễ hội quy mô nhỏ song lại thu hút khá đông du khách. Trước đây, lễ hội kéo dài hàng tuần với hội thi làm pháo và đốt pháo, rước pháo để tưởng nhớ Thánh Thiên Cương - người ra lệnh xuất quân đánh giặc và về sau được dân làng thờ làm Thành hoàng làng. Tuy nhiên, từ khi Nhà nước có quy định cấm tàng trữ và đốt pháo, hội làng Đồng Kỵ chỉ còn giữ lại nghi thức rước pháo, thân pháo được chạm trổ hình long, ly, quy, phượng với mong muốn năm mới mưa thuận gió hòa. Cùng với đó, trước yêu cầu và đòi hỏi của người dân trong xã hội hiện đại, nhiều lễ hội địa phương đã điều chỉnh, thay đổi những tập tục, nghi thức cổ truyền không còn phù hợp, nhất là tại những lễ hội có nghi lễ hiến tế động vật. Lễ hội chọi trâu Hải Lựu (huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc) là thí dụ điển hình. Đây là lễ hội chọi trâu lâu đời nhất Việt Nam. Từ năm 1947, do nhiều nguyên nhân khác nhau, lễ hội chọi trâu này không được tổ chức. Đến năm 2002, lễ hội chọi trâu Hải Lựu mới được khôi phục và được tổ chức trong hai ngày 16 và 17 tháng Giêng. Nguồn gốc của lễ hội này được ghi lại rằng, khi nhà Hán xâm lược nước Nam Việt, thừa tướng nước Nam Việt lúc đó là Lữ Gia lui quân về vùng núi Hải Lựu để đánh giặc. Sau mỗi trận thắng, Lữ Gia lại cho tổ chức chọi trâu để truyền cho quân sĩ tinh thần chiến đấu anh dũng, kiên cường, quả cảm như các "đấu sĩ trâu". Và con trâu sau khi tham gia cuộc chọi sẽ được dùng để khao quân. Tuy nhiên, hiện nay, nhiều ý kiến cho rằng, không nên xẻ thịt những con trâu chọi, bởi việc xẻ thịt với mục đích bán cho người dân là không phù hợp ý nghĩa ban đầu. Đồng thời, đây được cho là một hành vi không văn minh, cần phải dẹp bỏ trong xã hội hiện đại. Tương tự, lễ hội chém lợn ở làng Ném Thượng (Bắc Ninh) bắt nguồn từ một truyền thuyết xưa, khi đánh trận chạy đến vùng núi Ném Thượng để đồn trú, tướng Đoàn Thượng đã chém lợn rừng nuôi quân. Từ đó, hằng năm người dân mở hội chém lợn để tưởng nhớ người có công khai khẩn đất đai. Trong quá trình tổ chức lễ hội, người dân Ném Thượng mang con lợn tế ra kéo căng bốn chân, chém giữa sân đình, người tham dự lễ hội dùng tiền xoa tiết lợn với hy vọng mang lại may mắn. Nhưng trong bối cảnh lễ hội không còn bó hẹp trong phạm vi địa phương, quan niệm ngày nay, việc chém lợn lại được coi là mang yếu tố bạo lực, đưa tới hình ảnh phản cảm, không còn phù hợp, cần phải điều chỉnh. Vì vậy hai năm gần đây, nghi thức chém lợn tuy vẫn duy trì, song đã không diễn ra giữa sân đình như trước, mà thực hiện ở một nơi kín đáo hơn.

Về xu thế, các hoạt động trong lễ hội mang tính "động", tức là có thể thay đổi một cách linh hoạt, mềm dẻo tùy theo từng thời kỳ. Tuy nhiên, bên cạnh các lễ hội được điều chỉnh để phù hợp đời sống, nhu cầu của cư dân địa phương và ngoài địa phương, lại xuất hiện một số lễ hội đưa vào các yếu tố mới không ăn nhập với truyền thống. Thí dụ: có lễ hội dân gian tổ chức rước kiệu thánh bằng ô-tô; tổ chức hoạt động ca múa với diễn viên trình diễn bằng trang phục hiện đại không phù hợp không gian, không khí và tính chất của lễ hội dân gian. Hoặc như lễ hội đền Lảnh Giang (thôn Yên Lạc, xã Mộc Nam, huyện Duy Tiên, Hà Nam) tổ chức năm 2009 đã đưa nghệ thuật đương đại (video art, performance art,...) vào nghi lễ hầu thánh (một trong những nghi lễ chính của hội) tạo ra độ chênh khó thuyết phục giữa truyền thống và hiện đại, bởi vậy nhiều người đã bày tỏ sự nghi ngại và không đồng tình. Bởi, dẫu thế nào thì việc điều chỉnh, thay đổi các nghi thức truyền thống trong lễ hội bằng việc bổ sung yếu tố đương đại cũng cần tạo ra sự tương thích, hài hòa, đáp ứng được nhu cầu mới, không phải hễ muốn là được.

Thực tế, truyền thống nói chung (và các lễ hội nói riêng) cũng giống như bất cứ một hiện tượng xã hội nào khác, luôn có sự vận động, phát triển. Sự vận động ấy là khách quan nếu thật sự phù hợp ý nguyện, lợi ích cộng đồng cũng như xu thế chung của xã hội. Cũng như thực tế tại các lễ hội nhiều năm qua đã cho thấy không thể phủ nhận các biến chuyển cơ bản của đời sống kinh tế - xã hội đã ảnh hưởng lớn đến các sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng và sự "lên ngôi" của một số lễ hội cũng không phải là ngoại lệ. Do đó, cần xem xét lễ hội như một tác phẩm văn hóa của một cộng đồng, có thể vận động, biến đổi trước những biến chuyển của xã hội. Sự phát triển của xã hội tất yếu đưa tới sự phát triển, mở rộng chiều kích nhu cầu của con người. Chính vì thế, mục đích, ý nghĩa và việc thực hành lễ hội cũng cần được điều chỉnh phù hợp nhu cầu mới. Việc phục dựng theo hướng làm mới, sáng tạo các yếu tố cấu thành lễ hội là cần thiết. Tuy nhiên, sự sáng tạo cần phù hợp truyền thống và hài hòa với cuộc sống đương đại. Để làm được điều này, cần có sự tư vấn của các chuyên gia, nhà nghiên cứu văn hóa, cũng như bảo đảm sự đồng thuận của cư dân địa phương và ngoài địa phương. Chỉ như vậy, lễ hội mới thật sự phát huy được giá trị, ý nghĩa trong đời sống nói chung, trong các hoạt động văn hóa của xã hội nói riêng.

THANH GIANG