Còn nhiều “khoảng trống” về an toàn lao động

VĂN HẢI

Thứ sáu, 11/05/2018 - 10:37 AM (GMT+7)
Font Size   |         Print

Người lao động phải có ý thức chấp hành các quy định về an toàn vệ sinh lao động. Ảnh: HẢI NGUYỄN

Mặc dù đã có các quy định về an toàn vệ sinh lao động (ATVSLĐ), song việc ngăn ngừa, giảm thiểu tai nạn lao động (TNLĐ), bệnh nghề nghiệp (BNN) cho người lao động (NLĐ) vẫn nan giải, nhất là tính tuân thủ pháp luật của nhiều chủ sử dụng lao động (SDLĐ) và NLĐ còn thấp.

Báo động ở lĩnh vực xây dựng

Theo Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (LĐ-TB&XH), báo cáo chưa đầy đủ của 63/63 Sở LĐ-TB&XH, năm 2017, trong khu vực có quan hệ lao động, Bộ LĐ-TB&XH đã nhận được 137 biên bản điều tra của 130 vụ TNLĐ chết người với 137 người chết. Phân tích từ các biên bản điều tra TNLĐ chết người cho thấy: Lĩnh vực xây dựng đứng đầu về số vụ TNLĐ chết người, chiếm 20,8% tổng số vụ tai nạn và 19,7% tổng số người chết. Trong số 10 địa phương có số người chết vì TNLĐ nhiều nhất, TP Hồ Chí Minh đứng đầu với 122 vụ (123 người chết, 306 người bị thương nặng), tiếp theo là Hà Nội 66 vụ (66 người chết, 64 người bị thương nặng)…

Về nguyên nhân để xảy ra TNLĐ chết người, chủ yếu do người SDLĐ (chiếm 45,41%). Cụ thể, do người SDLĐ không xây dựng quy trình, biện pháp làm việc an toàn (chiếm 14,6% tổng số vụ); người SDLĐ không huấn luyện ATLĐ hoặc huấn luyện ATLĐ chưa đầy đủ cho NLĐ (chiếm 12,31% tổng số vụ); thiết bị không bảo đảm ATLĐ (chiếm 10% tổng số vụ); do tổ chức lao động và điều kiện lao động (chiếm 6,2% tổng số vụ) và do người SDLĐ không trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân trong lao động (chiếm 2,3%).

Nguyên nhân do NLĐ chiếm 20%. Cụ thể, NLĐ bị nạn vi phạm quy trình, quy chuẩn ATLĐ (chiếm 16,9% tổng số vụ); NLĐ không sử dụng phương tiện bảo vệ cá nhân (chiếm 3,1% tổng số vụ).

Thiệt hại về vật chất do TNLĐ xảy ra năm 2017 (chi phí tiền thuốc, mai táng, tiền bồi thường gia đình người chết và những người bị thương) lên tới 1.541 tỷ đồng; 4,8 tỷ đồng thiệt hại về tài sản; tổng số ngày nghỉ do TNLĐ là 136.918 ngày.

Theo ông Hà Tất Thắng, Cục trưởng ATLĐ (Bộ LĐ-TB&XH), hiện đang tồn tại “khoảng trống” kiến thức và thái độ về ATLĐ trong lĩnh vực phi chính thức, nơi không có quan hệ lao động. Do đó, cần nâng cao nhận thức cho lao động trẻ, đặc biệt trong nông nghiệp, để họ hiểu và có ý thức chấp hành các quy định về ATVSLĐ, hạn chế các mối nguy hiểm liên quan công việc…

Bệnh nghề nghiệp chưa giảm

Trong khi đó, Cục Quản lý môi trường y tế (Bộ Y tế) cho biết, năm 2017 cả nước có 5.447 cơ sở sản xuất triển khai quan trắc môi trường lao động với 933.186 mẫu được quan trắc. Các yếu tố môi trường lao động được quan trắc nhiều nhất là: Khí hậu 537.186 mẫu (chiếm 57,5%); ánh sáng 112.474 mẫu; tiếng ồn 98.663 mẫu; hơi khí độc 70.860 mẫu; bụi các loại 61.018 mẫu. Đáng chú ý, có 59.811 mẫu quan trắc môi trường lao động không đạt tiêu chuẩn (chiếm 6,4%), như: Ánh sáng, độ ồn, khí hậu, phóng xạ, điện từ trường, hơi khí độc và bụi…

Theo bà Lương Mai Anh, Phó Cục trưởng Quản lý môi trường y tế, trong năm 2017 có 858.354 trường hợp NLĐ đi KCB mắc các bệnh như viêm xoang, viêm mũi họng, viêm thanh quản cấp, dạ dày, tá tràng, mắt. Đáng chú ý, 24 địa phương thực hiện khám phát hiện được 30/34 loại bệnh nghề nghiệp (BNN); có bốn BNN mới phát hiện trong năm 2017 là bệnh bụi phổi tale nghề nghiệp, nhiễm độc thuỷ ngân, giảm áp nghề nghiệp và đục thuỷ tinh thể nghề nghiệp.

Bên cạnh đó, có 295.443 NLĐ tiếp xúc với các yếu tố có hại, trong đó đã phát hiện 3.802 trường hợp mắc BNN. “Chúng tôi đã giám định được 785 trường hợp, tăng gấp ba lần so cùng kỳ năm 2016, trong đó riêng Quảng Ninh giám định được 455 trường hợp bụi phổi than nghề nghiệp. 102 trường hợp BNN được hưởng trợ cấp một lần và 51 trường hợp được nhận trợ cấp thường xuyên”, bà Mai Anh thông tin.

Theo Cục Quản lý môi trường y tế, do môi trường lao động chưa thật sự bảo đảm nên các trường hợp bị BNN chưa có xu hướng giảm, nhất là bệnh điếc nghề nghiệp. Ngoài ra, nhiều NLĐ còn phát hiện bị bệnh cơ xương khớp, tim mạch, căng thẳng tâm lý. Việc gia tăng sử dụng hóa chất trong sản xuất cũng làm tăng số lượng NLĐ tiếp xúc bị tổn thương, gây nguy hiểm đối với sức khỏe của họ.

Trong khi đó, nhiều chủ SDLĐ chưa quan tâm đầu tư chăm sóc sức khỏe cho NLĐ. Hiện có tới hơn 80% số đơn vị SDLĐ chưa thực hiện quan trắc môi trường, chưa tổ chức khám BNN cho NLĐ. NLĐ cũng còn hạn chế trong việc tiếp cận quyền lợi được pháp luật bảo hộ như việc chăm sóc sức khỏe tại nơi làm việc; chưa biết bảo vệ những quyền lợi chính đáng của mình, nhất là lao động tại những DN nhỏ, DN tư nhân.

“Mặc dù Luật ATVSLĐ quy định lao động tự do, lao động gia đình, người làm nông – lâm - ngư nghiệp cũng được quyền làm việc trong môi trường bảo đảm ATVSLĐ, nhưng hiện vẫn chưa có quy định cụ thể về công tác này, nhất là đối với NLĐ làm việc trong khu vực phi chính thức. Lực lượng lao động thuộc diện này (không có hợp đồng lao động) chiếm tới gần 60% lực lượng lao động”, bà Mai Anh nhận định.