Cần hướng đến nguồn nhân lực chất lượng

VĂN HẢI

Thứ hai, 16/04/2018 - 10:19 AM (GMT+7)
Font Size   |         Print

Chất lượng giáo dục nghề nghiệp phải được cải thiện theo hướng tiếp cận các chuẩn của khu vực và thế giới. Ảnh: HẢI ANH

Nhằm thực thi Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) liên quan tới thị trường lao động của Việt Nam, có nhiều vấn đề đang được đặt ra, từ việc phải sửa đổi Bộ luật Lao động đến nâng cao chất lượng nguồn nhân lực…

Tính cạnh tranh

Nhận định về thách thức của việc thực thi CPTPP tới phát triển nguồn nhân lực của Việt Nam, bà Lê Kim Dung, Cục trưởng Việc làm (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) cho rằng, thách thức lớn nhất của lao động Việt Nam là tính cạnh tranh, trong khi mức độ sẵn sàng của giáo dục nghề nghiệp ở nước ta còn chậm. Cạnh tranh giữa Việt Nam với các nước trên thế giới trong việc cung cấp nguồn lao động chất lượng cao ngày càng tăng, đòi hỏi chất lượng giáo dục nghề nghiệp phải được cải thiện đáng kể theo hướng tiếp cận được các chuẩn của khu vực và thế giới nhằm tăng cường khả năng công nhận văn bằng, chứng chỉ giữa Việt Nam và các nước khác.

Vì vậy, bà Dung đề xuất cần tăng cường tham gia xây dựng chương trình, giáo trình đào tạo và tổ chức giảng dạy, hướng dẫn thực tập và đánh giá kết quả học tập của người học tại cơ sở giáo dục nghề nghiệp; đồng thời tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nâng cao kỹ năng nghề và đào tạo lại nghề cho người lao động.

Nhìn nhận về những thách thức của CPTPP đến thị trường nhân lực nước ta, bà Nguyễn Thị Phương Mai, Giám đốc điều hành Navigos Search (nhà cung cấp hàng đầu về các dịch vụ tuyển dụng nhân sự cấp cao tại Việt Nam) cho rằng, các doanh nghiệp hiện nay đang phải đối diện thách thức trong việc giữ nhân lực giỏi.

Theo phân tích của bà Mai, thách thức nằm ở việc tìm kiếm khối nhân lực cho vị trí quản lý cấp trung và cấp cao. Khảo sát của Navigos Search đối với lao động ở độ tuổi sinh năm từ 1990 đến 1996 cho thấy, có 17% số doanh nghiệp cho rằng thuộc lứa tuổi này có độ gắn bó không cao. Khảo sát mới đây của Navigos Search với 3.000 ứng viên thì có tới 69% cho biết họ sẵn sàng đón cơ hội mới và thường chuyển từ hai đến ba công ty; 63% cho biết động lực của họ là muốn được gia tăng trình độ chuyên môn và kỹ năng. Kết quả một khảo sát khác cũng cho thấy có đến 41% số doanh nghiệp cảm thấy khó tìm thấy ứng viên đạt chất lượng cho vị trí quản lý; 31% cho biết khó khăn về ngôn ngữ.

Bà Mai cho rằng, cơ hội đến từ doanh nghiệp đầu tư nước ngoài tăng lên khiến các ứng viên chuyển từ doanh nghiệp này sang doanh nghiệp khác khá nhiều, dẫn đến việc nhiều doanh nghiệp đau đầu với vấn đề giữ chân nhân tài.

Sửa Bộ luật Lao động theo hướng nào?

Theo ông Chang-Hee Lee, Giám đốc Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) tại Việt Nam, với mục tiêu sẽ trình Quốc hội Dự thảo Bộ luật Lao động sửa đổi vào tháng 5-2019, các chương về quan hệ lao động có vai trò mấu chốt không chỉ đối với Hiệp định CPTPP và FTA Việt Nam - EU, mà còn là mục tiêu tổng quát hiện đại hóa cách thức lao động được quy định tại Việt Nam trong thời kỳ hiện đại.

Ông Chang-Hee Lee cho rằng, trong nền kinh tế thị trường hiện đại, điều kiện cho người lao động, bao gồm tiền lương, được quyết định thông qua đối thoại xã hội và thương lượng tập thể giữa đại diện người lao động và người sử dụng lao động, được trao quyền và điều chỉnh bởi các luật và quy định liên quan quan hệ lao động. Đây là điểm yếu trong Bộ luật Lao động hiện hành, cần phải cải thiện để phù hợp với Tuyên bố năm 1998 của ILO.

Theo đó, trong quá trình Việt Nam sửa đổi Bộ luật Lao động, cần cân nhắc đến việc phê chuẩn các công ước số 98 và 87, vì các công ước này đưa ra những nguyên tắc phổ quát dựa trên quan hệ lao động hiện đại được xây dựng ở hầu hết các nước thành viên của ILO.

“Tuy nhắc tới những khía cạnh đó, chúng ta vẫn còn nhiều vấn đề quan trọng sẽ ảnh hưởng tới doanh nghiệp, người lao động và xã hội, bao gồm hợp đồng lao động, phân biệt đối xử, tuổi về hưu, tiền lương và thời giờ làm việc”, ông Chang-Hee Lee nhấn mạnh.

Một vấn đề khác cũng không kém phần quan trọng là phạm vi áp dụng của Bộ luật Lao động nên hướng tới những người lao động và người sử dụng lao động ở khu vực kinh tế phi chính thức. Bởi lẽ, Việt Nam hiện có một lực lượng lao động hơn 53 triệu người, trong đó 29 triệu người làm các công việc tự do hoặc là lao động gia đình không được trả lương, phần lớn thuộc nền kinh tế phi chính thức, và 23 triệu người là lao động làm công ăn lương.

“Trong bối cảnh đó, tôi muốn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tham gia đầy đủ của Công đoàn, đại diện doanh nghiệp và các bên liên quan khác trong suốt quá trình sửa đổi Bộ luật Lao động. Việc đổi mới pháp luật lao động có thành công hay không phụ thuộc cách thức tiếp thu một cách cân bằng giữa nhu cầu được bảo vệ tốt hơn của người lao động và nhu cầu về tính linh hoạt của doanh nghiệp. Cân bằng những nhu cầu của người lao động và người sử dụng lao động là khả thi chỉ khi đại diện của họ tham gia quá trình này”, ông Chang-Hee Lee khẳng định.