Băn khoăn mức phí bảo vệ môi trường

ĐOÀN HÀ

Thứ hai, 12/03/2018 - 05:15 AM (GMT+7)
Font Size   |         Print

Hiện trên địa bàn TP Hồ Chí Minh có gần 2.790 cơ sở sản xuất đang nộp phí bảo vệ môi trường đối với nước thải. Ảnh: NAM BẮC

Sau khi UBND TP Hồ Chí Minh đưa ra Dự thảo đề án điều chỉnh tăng mức thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp trên địa bàn thành phố, nhiều nhà khoa học, chuyên gia, doanh nghiệp cho rằng, mức tăng phí trên còn bộc lộ nhiều bất cập và chưa phản ánh được công tác bảo vệ môi trường.

Mức phí không còn phù hợp

Theo Sở Tài nguyên và Môi trường (TN&MT) TP Hồ Chí Minh, công tác thu phí nước thải công nghiệp thực hiện từ năm 2004 và được điều chỉnh nhiều lần đến nay. Thế nhưng, mức thu phí và đối tượng thu phí đang phát sinh nhiều bất cập, không phù hợp tình hình mới. Đặc biệt, không thể đáp ứng yêu cầu tái đầu tư cải tạo chất lượng môi trường.

Cụ thể, đối tượng được xác định đóng phí bảo vệ môi trường tập trung chủ yếu là các cơ sở sản xuất chế biến của 13 loại hình ngành nghề, nhà máy xử lý nước thải, cấp nước. Với loại hình cơ sở sản xuất có mức xả thải khoảng 20 m3/ngày đêm trở xuống chỉ nộp phí cố định 1,5 triệu đồng/năm. Với đối tượng có mức xả thải trên 20 m3/ngày đêm, ngoài mức phí cố định phải đóng sẽ cộng thêm phí biến đổi (tính theo tổng lượng nước thải ra, hàm lượng thông số ô nhiễm và tùy theo mỗi loại chất thải mà có mức thu khác nhau). Hiện trên địa bàn TP Hồ Chí Minh có gần 2.790 cơ sở sản xuất (thuộc 16 nhóm) đang nộp phí bảo vệ môi trường đối với nước thải (tổng lưu lượng khoảng 143.430 m3/ngày đêm). Mỗi năm, thành phố thu khoảng tám tỷ đồng.

Để khắc phục tình trạng trên, Sở TN&MT thành phố đề xuất về đối tượng bằng việc bổ sung thêm các đối tượng mới là cơ sở y tế, bệnh viện, phòng khám, chữa bệnh. Theo đó, hiện các cơ sở y tế có phát sinh nước thải y tế (523 cơ sở, thải hơn 22.260 m3/ngày đêm) và cơ sở xử lý chất thải rắn (thải hơn 7.880 m3/ngày đêm) lại không thuộc đối tượng chịu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải.

Theo ông Trần Nguyên Hiền, Chi cục trưởng Bảo vệ môi trường (Sở TN&MT TP Hồ Chí Minh), mức tính thu phí nước thải cần điều chỉnh. Cụ thể, cơ sở sản xuất có tổng lượng nước thải dưới 5 m3/ngày đêm áp dụng mức phí cố định 1,5 triệu đồng/năm; cơ sở có lượng xả thải trên 5 m3/ngày đêm sẽ áp dụng phí cố định nhân với hệ số K (lưu lượng xả thải/ngày đêm chia cho 5 m3/ngày) và cộng với phí biến đổi phải nộp. Dự tính, với đề xuất bổ sung hai nhóm đối tượng này vào danh sách thu phí nước thải công nghiệp, tổng số các cơ sở phải đóng phí là 3.310 cơ sở và dự kiến thành phố sẽ thu được 60 tỷ đồng/năm. Trong số này, 25% sẽ để trang trải chi phí nghiệp vụ chuyên môn, quản lý thu phí, còn lại 75% nộp vào ngân sách thành phố để sử dụng cho công tác bảo vệ môi trường.

Theo bà Nguyễn Thị Thanh Mỹ, Phó Giám đốc Sở TN&MT TP Hồ Chí Minh, cách thức thu phí hiện nay dựa trên cơ sở đối tượng đóng phí tự kê khai mức phát thải. Sở và quận, huyện có kiểm tra xác suất hằng năm để định lượng lại mức phí thu. Tuy nhiên, cách làm này không đạt được hiệu quả tốt do có nhiều đối tượng đã đầu tư hệ thống xử lý nước thải nhưng việc vận hành không thường xuyên, không đúng quy định. Do vậy, việc điều chỉnh cách thu và mức thu là rất cần thiết trong bối cảnh hiện nay.

TP Hồ Chí Minh cần thiết phải có sự khảo sát nhất định về lượng chất thải đang gây ô nhiễm cho hệ thống kênh, rạch.

Tăng phí không phải tăng thu nhập cho cán bộ?

Cho rằng Dự thảo đề án chưa bao quát được công tác bảo vệ môi trường tại TP Hồ Chí Minh, ông Đồng Văn Khiêm, Thành viên Hội đồng tư vấn phản biện Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố nêu, đối tượng thực hiện mà Dự thảo nêu chỉ là nước thải công nghiệp. Trong khi, TP Hồ Chí Minh còn có nguồn thải từ các ngành chế biến, sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp, ngành dịch vụ, xây dựng… Đơn cử về chất thải nguy hại trong ngành nông nghiệp, ông Khiêm dẫn chứng về thuốc bảo vệ thực vật đang được người dân sử dụng tràn lan và bừa bãi, khiến cho vấn đề ô nhiễm nguồn nước tại khu vực nông thôn ngoại thành đang rất nhức nhối. Do đó, tên Dự thảo đề án nên đổi từ “công nghiệp” thành “độc hại”.

Cùng quan điểm, ông Tống Hữu Châu, Ủy viên Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố cho rằng, Dự thảo đề án còn “bỏ sót” các cơ sở y tế và phòng khám tư nhân, nơi phát sinh nguồn thải rất lớn lên thành phố. Vì vậy, đề án cần quy định chặt chẽ về mức phí môi trường đối với cơ sở y tế tư nhân. Đồng thời, cần đưa ra mức chế tài chặt chẽ và nghiêm ngặt đối với đối tượng này. Cũng theo ông Châu, cách tính hệ số K như đề án nêu ra chưa công bằng, chưa khác biệt giữa các đối tượng. Ngoài ra, chất độc hại theo danh mục của Dự thảo chỉ có 6, trong khi, hiện các loại chất độc hại rất nhiều nếu không bổ sung mà thông qua thì các chất nguy hại khác có nguy cơ lọt sổ.

Tương tự, bà Lê Bích Loan, Ban quản lý Khu công nghệ cao thành phố cho rằng, đề án nói, “thu để doanh nghiệp (DN) tiết kiệm nước” là không thuyết phục mà cần khuyến khích DN sử dụng công nghệ tiết kiệm nước. Nếu tính theo hệ số K thì DN đóng thêm gần 1,6 tỷ đồng mỗi năm, gấp 150 lần hiện nay là quá cao. Thế nên, TP Hồ Chí Minh cần thiết phải có sự khảo sát nhất định về lượng chất thải đang gây ô nhiễm cho hệ thống kênh rạch. Từ đó, điều chỉnh mức giá trên hàm lượng ô nhiễm này, thay vì điều chỉnh thêm hệ số về lưu lượng nước thải như Dự thảo nêu. Ngược lại, DN sản xuất có lượng nước thải chứa hàm lượng chất gây ô nhiễm nặng sẽ phải đầu tư thêm công nghệ xử lý để giảm chi phí bảo vệ môi trường phải đóng.

Về vấn đề thống kê DN trong Dự thảo, ông Lê Đặng Trung, đại diện một DN hoạt động trên địa bàn thành phố thẳng thắn nêu, trong Dự thảo chỉ nêu ra con số gần 2.800 DN sản xuất đang nộp phí bảo vệ môi trường đối với nước thải. Thế nhưng, theo ông Trung, đây là con số quá nhỏ nhoi đối với hàng trăm nghìn cơ sở sản xuất có nguồn thải công nghiệp trên địa bàn thành phố. Điều này tạo nên sự không công bằng cho các DN chấp hành tốt quy định, làm cho phần lớn cơ sở sản xuất nói trên tiếp tục thiếu ý thức bảo vệ môi trường.

Ông Trần Thanh Hồng, Phó Tổng giám đốc Công ty TNHH Tân Thuận (Khu chế xuất Tân Thuận) cho hay, đề án cần làm rõ khi thực hiện hiệu quả mang lại ra sao? (giảm bao nhiêu hàm lượng chất thải, cơ sở gây ô nhiễm có thu hẹp không…). Theo ông Hồng, nếu thực hiện thì mức phí môi trường mà DN phải đóng tăng lên năm đến bảy lần/năm là quá cao và cần tính toán lại kỹ lưỡng. “Nếu mức phí trên, hằng năm chúng tôi phải đóng phí nước thải công nghiệp hàng tỷ đồng, quá sức chịu đựng. Thu phí để lại cho bộ máy 25% sẽ gây ra rất nhiều vấn đề nhạy cảm. Tăng thu phải có sơ sở khoa học vì mục đích cuối cùng là điều chỉnh hành vi nhằm nâng cao trách nhiệm bảo vệ môi trường của mọi đối tượng chứ không phải để tăng thu nhập cho cán bộ”, ông Hồng thẳng thắn bày tỏ.

Theo nhiều ý kiến của chuyên gia và nhà khoa học, ngoài việc điều chỉnh những bất cập trên, chính quyền thành phố cần đưa ra lộ trình thực hiện cụ thể và minh bạch trong thu chi. Bên cạnh đó, thành phố cần xem lại bất cập giữa DN chủ động đầu tư hệ thống xử lý nước thải hiện đại cũng chịu chung mức phí nước thải với những cơ sở, DN không có hệ thống xử lý nước thải. Vì thế, mức thu phí không thể “đánh đồng” với nghịch lý trên.

MỚI CHỈ XỬ LÝ HƠN 21% LƯỢNG NƯỚC THẢI
Trong chương trình giảm thiểu ô nhiễm môi trường đến năm 2020, TP Hồ Chí Minh đặt mục tiêu 80% tổng lượng nước thải sinh hoạt đô thị được thu gom và xử lý tập trung đạt chuẩn quy định trước khi thải ra môi trường. Thế nhưng, thống kê cho thấy, hiện tổng lượng nước thải sinh hoạt đô thị trên địa bàn thành phố ước tính khoảng 1.750.000 m3/ngày. Với hai trạm xử lý nước thải Bình Hưng và Bình Hưng Hòa, lượng nước thải sinh hoạt được xử lý 171.000 m3/ngày, chiếm tỷ lệ gần 10%. Nếu tính thêm lượng nước thải được xử lý cục bộ (khoảng 199.624 m3/ngày) thì lượng nước thải đô thị được thu gom và xử lý tổng cộng 370.624 m3/ngày, chỉ chiếm tỷ lệ hơn 21%. Có thể nói, nước thải đô thị TP Hồ Chí Minh hầu như chỉ mới xử lý được một phần nhỏ rồi xả thải trực tiếp ra ao hồ, kênh, rạch, sông nội thành, gây ô nhiễm môi trường nước mặt.