Cái sự học ở Cuôi

BÀI & ẢNH: LÊ MINH HÀ

Thứ hai, 16/04/2018 - 09:58 AM (GMT+7)
Font Size   |         Print

Điểm trường Cuôi, một trong những điểm trường xa và khó khăn nhất của vùng cao Quảng Trị.

20 học sinh cả hai cấp học mầm non và tiểu học. Trong đó học sinh mầm non chiếm một nửa. Ba giáo viên (một nam, hai nữ), căn phòng nhỏ hẹp. Ngôi trường có tên là Cuôi đó thuộc địa phận xã Hướng Lập, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị, cách thị trấn Khe Sanh 80 km về hướng bắc.

Đường đến bản Cuôi

Đến điểm trường Cuôi đó là một sự tình cờ. Sáng sớm, Thiếu tá Hoàng Trung Thành, Phó đồn trưởng Đồn Biên phòng Cù Bai hỏi chúng tôi muốn đi thực tế ở đâu. Khi biết chúng tôi muốn đến với những bản làng xa xôi nhất của xã Hướng Lập thì Thiếu tá Thành điều hai đồng chí cán bộ địa bàn đưa chúng tôi đến Cuôi. Cách trung tâm xã gần 20 km, với một con đường đất rộng chừng 13 m nhưng chúng tôi cũng đủ nhọc nhằn vì xe chạy men theo non cao, bên cạnh đó là vực sâu, mới sớm mai sương trắng vẫn đang la đà. Yên Mã Sơn, một người dân phượt ở địa phương đi theo chúng tôi than rằng: “Cái đường rộng, không dốc sao đi nghe mỏi quá”. Anh còn cho biết thêm: “Thời trước, đến Cuôi đi con đường nhỏ, mùa mưa thì khổ đến tận cùng, cán bộ địa bàn khi vào công tác ở đây kêu trời không thấu, giờ Đoàn Kinh tế - Quốc phòng 337 đã mở cho con đường rộng đi đến đã người, sướng cái xe...”.

Một con đường khang trang, đẹp đẽ được mở ra như lối dẫn cho Cuôi đến nhanh hơn với cuộc sống bên ngoài. Các cán bộ, chiến sĩ Đoàn Kinh tế - Quốc phòng 337 đã không quản ngại gian lao, làm từng mét đường cho dân. Vượt nắng, thắng mưa, cuối cùng, con đường dài 13 mét đã được hoàn thành. Có con đường mới, dân bản Cuôi đều hết sức phấn khởi. Nhiều người cứ đi tới, đi lui trên đường như để khẳng định rằng, đây không phải giấc mơ. Ông Hồ Ca Rạc, Công an viên bản Cuôi tâm sự với chúng tôi rằng: “Có con đường, 117 người dân bản Cuôi không còn phải khổ cực khi ra xã, ra huyện nữa. Tuy cuộc sống ở Cuôi còn gặp nhiều khó khăn nhưng có con đường dần dần mọi thứ sẽ thay đổi khác. Trước mắt tập trung cho con em học tập cái đã, sự học ở đây còn cực lắm. Cực cho cha mẹ, cho học sinh, cho thầy, cho cô. Vì đường xa, trường xa...”.

Chuyện học chữ ở Cuôi

Bản Cuôi có 26 hộ, 117 nhân khẩu, là một trong những bản xa xôi nhất của Quảng Trị. Đồng thời với nó là khó khăn, đói nghèo, nhiều thế hệ người dân bản Cuôi không biết chữ. Điểm trường Cuôi (thuộc Trường phổ thông dân tộc bán trú Tiểu học và THCS Hướng Lập) được thành lập để con em dân bản nơi đây được đi học. Hơn 20 năm qua, đã có nhiều thế hệ thầy, cô giáo gắn bó với điểm trường heo hút này để dạy con chữ cho các em. Thầy Nguyễn Hồ Phong, Phó Hiệu trưởng tâm sự với chúng tôi rằng: “Do điều kiện đi lại khó khăn, từ Cuôi ra học ở xã cũng gần 20 km, các em nhỏ không thể theo học được nên chúng tôi mới đưa giáo viên về cắm bản. Muốn các em được học chữ không còn cách nào khác. Tổng số học sinh tiểu học ở đó là 10 em, hai giáo viên”.

Thầy Hồ Quang Vinh có thâm niên 11 năm dạy học ở Hướng Lập tâm sự với chúng tôi rằng: “tôi đi dạy học ở đây 11 năm, từ thời ra trường đã lên công tác ở Hướng Lập. Lần đầu tiên tôi vào dạy học ở Cuôi năm 2014, năm 2018 tôi được phân công vào dạy ở điểm trường Cuôi. So với trước đây thì đường sá đi lại tốt hơn rất nhiều. Tôi dạy bốn em học sinh lớp 2 và hai em lớp 3. Do ít học sinh, mặc dù lớp ghép nhưng vẫn kèm cặp được các em học hành nên cũng bảo đảm được chất lượng học tập”.

Trong phòng học chừng 30 m², với chiếc bảng kẻ làm đôi. Bên này bốn em học sinh lớp 2 học Toán, bên kia hai em lớp 3 học Tiếng Việt. Thầy Vinh say sưa giảng bài cho học sinh, lúc dịch qua phải dạy lớp 2, lúc chuyển sang trái chỉ bảo cho các em lớp 3 trong một căn phòng nhỏ hẹp. Cô giáo Nguyễn Thị Hồng Nhung dạy học hơn hai năm nay ở Cuôi cho hai học sinh lớp 4 và hai học sinh lớp 5. Phòng học của học sinh lớp cô Nhung được chia ra từ lớp thầy Vinh bằng tấm ri-đô mầu xanh do các cô thầy tự chế tạo lấy. Cô Nhung tâm sự: “Dạy lớp ghép nên cứ hết xoay bên này lại xoay bên kia nên cũng khá vất vả. Nhất là phòng hẹp không có vật cách âm nên cũng khó khăn nhiều cho việc dạy và học. Tuy vậy, thấy các em học hành khá chăm chỉ và tiến bộ nên tôi cũng quên mệt nhọc để cố gắng dạy cho tốt”.

Phòng học chật chội, mùa mưa nước xối lên mái tôn, thầy giảng trò không nghe được bởi tiếng ồn, mùa nắng mái tôn hấp hơi, xuống thầy trò như được tắm suối bởi mồ hôi như xối. Trong chừng 90 m² của điểm trường Cuôi còn có thêm một lớp học mầm non với 10 cháu học sinh. Phòng học cũng được ngăn ra từ tiểu học bởi một tấm vải. Hình ảnh này khiến chúng tôi nhớ lại, đâu đó trên dặm đường mà chúng tôi đi qua không ít phòng học, nhà ở công vụ đang bỏ phí. Thầy Hồ Quang Vinh tâm sự: “Bên mầm non không có trường nên mượn nhờ bên Cuôi để dạy, khó khăn thì chịu với nhau chứ biết răng chừ. Nhà ở giáo viên ở đây cũng dựa tạm vào vách lớp học sau đó che thêm tôn”.

Một phòng tạm, ba giáo viên cắm bản

Hơn 10 năm dạy học ở vùng cao Hướng Hóa, thầy Hồ Quang Vinh chưa từng được ở trong một ngôi nhà đúng nghĩa. Thường 30 ngày mới về gia đình một lần, vượt hơn 100 km từ xã Cam Tuyền, huyện Cam Lộ đến với xã Hướng Lập, huyện Hướng Hóa để gieo con chữ cho các em học sinh người Vân Kiều, Pa Cô, nhà ở của thầy Vinh bây giờ tại điểm trường Cuôi là căn phòng được vây lại bằng tôn chừng 25 m². Nó không chỉ dành riêng cho thầy Vinh, đây còn là nơi cư ngụ của hai nữ giáo viên: một tiểu học và một mầm non. Chiếc giường ngủ của thầy Vinh được ngăn với giường hai cô bằng một tấm ri-đô mầu hồng. Diện tích còn lại nhường chỗ cho xô chậu, bát đĩa, xoong nồi và một số vật dụng khác.

Thấy tôi mỉm cười khi nhìn hai chiếc giường đặt ở cạnh nhau và quan sát mọi vật chung quanh, thầy Vinh cười: “Mọi thứ ở đây không dễ dàng! Cũng may điện lưới kéo vào rồi nhưng sóng điện thoại vẫn còn khó lắm, muốn gọi điện về cho gia đình phải đi gần 1 km và phải chịu sự tra tấn của sên, của vắt rừng. Không phải lúc nào cũng được gặp vợ con qua điện thoại, các anh vào nghe tiếng xe mới biết là có người”. Và thầy Vinh, cô Nhung kể cho chúng tôi về những giây phút nghỉ ngơi, mọi người trồng thêm rau củ, xuống suối thả lưới bắt cá để cải thiện bữa ăn. Cuộc sống của giáo viên cắm bản nếu không được níu giữ bằng hai chữ “yêu nghề” thì họ sẽ không lựa chọn công việc này. Thầy Vinh kể: “Tôi vẫn muốn cố hết sức mình để dạy chữ cho học sinh vùng cao. Cũng may khi ở rừng núi, bà con ở đây và phụ huynh với giáo viên như người nhà, có cơm ăn cơm, có cá ăn cá”. Cô Nhung chia sẻ: “Dù khó khăn thế nào thì chúng tôi cũng khắc phục được, chỉ mong rằng khi có điều kiện thì Cuôi có được ngôi trường khang trang, giáo viên có được chỗ ở, nước sạch, nhà vệ sinh... để yên tâm công tác”.

Rời bản Cuôi, chúng tôi xe trước xe sau nhưng vẫn không quên ngoái đầu nhìn lại. Và phía sau đó, những thầy, cô giáo ở bản Cuôi vẫn nhìn theo chúng tôi. Nhìn con đường đất, tôi cứ mong mùa mưa bớt rớt nước xuống trên con đường này. Vì điều đó sẽ khiến họ không được về nhà khi đường mưa lầy lội. Nếu có thể về thì sức họ cũng bị mòn đi. Tuổi thanh xuân của thầy Vinh, cô Nhung trút hết cho nơi này, và một lúc nào đấy núi rừng có còn nhắc đến họ?