Câu hỏi ở xóm núi Mỏ Ba...

BÀI & ẢNH: VƯƠNG TÂM

Thứ bảy, 03/03/2018 - 10:29 AM (GMT+7)
Font Size   |         Print

Những bà mẹ trẻ và đàn con trong xóm.

Đường vào xóm núi Mỏ Ba, thuộc xã Tân Long, huyện Đồng Hỷ, Thái Nguyên rất chênh vênh, khúc khuỷu. Lắm đoạn dốc dựng đứng, lại bỗng ngoặt vào sườn núi, rồi băng qua một nẻo đường vắt sang vách núi kế bên. Theo đồng hồ chỉ, con đường chúng tôi đi ngoằn ngoèo, vượt qua bốn dãy núi kéo dài tới ngót 20 cây số, tính từ trung tâm xã mới tới xóm Mỏ Ba.

Nói đến thì… ngại

Trên đường chúng tôi còn gặp một người phụ nữ Dao đang đi như cúi rạp xuống đất bởi con dốc dựng ngược. Chị vẫy tay đi nhờ vào xóm để đưa chai nước giếng cho cán bộ y tế xã kiểm tra xem có ăn được ngay không. Cái giếng mới đào của nhà chị vàng như có lẫn quặng sắt nên phải đi xét nghiệm. Ấy thế rồi chị kể vanh vách vì sao có cái xóm Mỏ Ba này. Đầu tiên đây chỉ là nơi ở của một số công nhân đi phu mỏ sắt trong mấy dãy núi gần đây. Họ quây tụ lại thành một xóm nhỏ và cùng ở đội khai thác quặng số 3. Trước kia còn có con đường sắt nội bộ chạy vòng quanh. Từ đó hình thành xóm thợ Mỏ số 3, sau gọi tắt là Mỏ Ba cho tiện. Xóm hình thành cách đây gần 50 năm. Đến nay xóm vẫn heo hút và là bản nghèo nhất của huyện Đồng Hỷ, với cả nghìn người dồn tụ trong thung lũng.

Phải hai mươi phút sau chúng tôi mới tới con đường rẽ vào xóm. Người phụ nữ kia xuống xe lại tất tả leo qua con đường nhỏ để tới trạm y tế. Còn chúng tôi rẽ vào nhà chị Ngô Thị Mai, người phụ trách về sinh đẻ và dân số của xóm Mỏ Ba. Khi biết chúng tôi vào tìm hiểu về nếp sống văn hóa và vấn đề sinh đẻ với tốc độ chóng mặt ở đây (bởi theo số liệu công bố của xã, xóm có khoảng hơn 100 hộ, nhưng số nhân khẩu lên tới gần 1.000 người. Nếu tính trung bình thì mỗi gia đình có từ 8 đến 10 người, chỉ vì đẻ nhiều), chị Mai ngượng nghịu một lúc rồi nhỏ nhẹ nói, xóm tập trung nhiều người dân tộc thiểu số từ nhiều nơi dồn về, phần lớn là người Mông. Bố chị là một trong những người đầu tiên đến xóm này rồi định cư luôn từ khi mỏ sắt giải tán. Gia đình chị là những người Mông đầu tiên dựng nhà ở thung lũng này.

Biết bao ký ức từ những ngày thơ bé dồn về. Đầu tiên xóm vắng hoe, hầu hết công nhân bỏ về quê, chỉ còn lại độ mươi gia đình trụ lại, khai khẩn đất đai dựng nhà cửa sinh sống. Nhưng có lẽ trời xui đất khiến thế nào đó, không ít thanh niên lấy vợ rồi sinh con đàn, cháu đống. Nhiều người nói, phải đẻ thôi vì bản vắng người quá, đất lại rộng, phải có người làm chứ! Càng nhiều người càng ít con ma đến quấy nhiễu. Đất lành chim đậu mà! Thế rồi người đâu từ xa cũng đến dựng nhà để ở, cắm đất để phá nương làm rẫy. Cho dù đường xa thăm thẳm, chim bay tiếp đàn đều rũ cánh không thể tới nơi. Vậy mà con người vẫn tìm đến xây tổ ấm gia đình. Đầu tiên toàn người Mông, tiếp đến mới có người Dao, người Tày, Nùng, rồi Sán Dìu, mãi sau đó mới có những người Kinh vào làm ăn, buôn bán và ở lại…

Chợt nói lại chuyện sinh đẻ một thời “vô tội vạ” ở xóm, thì chị Mai bật cười nói, thật ngại ngùng. Chị nói xóm được mệnh danh là làng “siêu đẻ” trong cả tỉnh, với hàng chục gia đình đông con tới mức khó tin. Đặc biệt những thanh niên Mông đi bắt vợ rất sớm và hồn nhiên sinh đẻ. Gia đình nào có sáu con bị chê là… ít. Họ nghĩ đông con lắm của. Đầu tiên phải kể đến gia đình ông Ngô Văn Sùng (sinh năm 1956). Có thể nói ông Sùng là người đầu tàu trong cách nghĩ là vợ đẻ, chứ mình đâu có bụng mang dạ chửa. Sau đó chúng lớn lên đứa chị trông đứa em, mình có vất vả gì đâu. Ông bắt vợ từ khi 15 tuổi, lấy chị Lý Thị Chi xinh đẹp nhất xóm, rồi đẻ liền tù tì tám đứa con. Nhà nghèo ăn uống kham khổ, vợ ốm gầy tong teo, con cái nheo nhóc. Vậy mà ông lại bắt vợ lần nữa. Vương Thị Nhung, người vợ thứ hai đã có hai con riêng với người chồng đã mất. Không ngờ chị còn mắn đẻ hơn cả vợ cả. Chị Nhung cũng làm một mạch 10 đứa, đến mức “tả tơi”. Tính tổng cộng ông Sùng có 20 người con là vì thế. Ông Sùng có thói cứ đẻ chẳng khai báo gì. Cán bộ xã làm dân số năm nào cũng phải vào tận nơi kê khai nhân khẩu.

Người nối tiếp kiểu đẻ vô tội vạ là anh Hồng Văn Dinh (sinh năm 1974). Hồng Văn Dinh bắt vợ khi mới 13 tuổi, còn sớm hơn “đàn anh” Ngô Văn Sùng, sau đó cũng mỗi năm một đứa. Vợ anh đẻ một mạch, cho tới con số 13 (năm trai, tám gái) đến khi yếu quá, không thể chửa được nữa mới thôi. Một vợ và có tới 13 người con, Hồng Văn Dinh còn trội lên với “kỷ lục” một vợ lắm con nhất tỉnh.

Thực ra tiếp nối lớp “đàn anh” Ngô Văn Sùng còn nhiều người trước cả Hồng Văn Dinh, nhưng chỉ dám đẻ tới 12 con là “bó tay”. Có thể kể ra những cái tên khá “nổi” như Hồng Văn Páo và Đào Văn Tư cùng có 12 con; Lý Văn Dia và Hoàng Văn Sinh đều có 11 con; Hùng Văn Nó sinh 10 con; Vương Văn Khìn có 10 con… Còn số gia đình có từ 6-7 con là “chuyện thường ở huyện”.

Một “truyền thống” buồn!

Nhưng tiếp theo, tình trạng càng gay go hơn, bởi chính những người con của họ cũng lại tiếp nối truyền thống bắt vợ sớm, sinh đẻ không chịu thua kém những người đi trước. Có lần anh Vương Văn Lầu, trưởng thôn Mỏ Ba bày tỏ sự khó khăn khi đi vận động các gia đình chỉ nên sinh đẻ hai con theo kế hoạch. Họ đều tị nạnh với những gia đình đẻ nhiều rằng, gia đình nào nhiều con có nhiều sức lao động, khai khẩn đất hoang làm ra lắm của cải, hà cớ gì mà cấm họ không được đẻ nhiều. Quả là không dễ. Trong hàng chục năm tốc độ đẻ nhiều (vượt ngưỡng hai con) vẫn còn diễn ra.

Mưa đã tạnh hẳn. Chúng tôi đang dở câu chuyện, thì bên đường từng tốp trẻ con chạy nháo nhác, đuổi theo mấy người chở hàng từ huyện vào. Chị Mai nói, từ hàng chục năm qua, xóm không hề có chợ mà phải trông vào mấy người đi buôn hàng tiêu dùng vào tận đây bán. Đúng lúc đó có một người đàn ông chở một xe nồi chảo, ấm nhôm đỗ trước cửa nhà chị Mai mời chào. Chúng tôi xin phép đi lên phía ngã ba, nơi những người bày hàng ra bán. Trẻ con chạy ríu rít từng đàn. Những người mẹ trẻ cũng bế con cái rồng rắn ra xem hàng. Con đường nhỏ đi dọc xóm bỗng ồn ào, chỉ vì các em la hét đùa nghịch. Đó chính là thời điểm tụ họp ở ngã ba này. Bởi con đường độc đạo đi từ xã vào thôn chỉ đến đây là cụt. Cả xóm lọt thỏm ở giữa thung lũng vây quanh tứ bề núi cao. Khi hỏi một chị bán đồ tạp hóa mới hay, những người vào đây chỉ lấy công làm lãi chút ít, chứ bán giá cao dân cũng không có tiền mua. Chị nói, cứ thấy bọn trẻ reo vui là mọi người thấy hởi lòng hởi dạ, quên hết cả mệt.

Chúng tôi đang mải chụp ảnh những em bé người Mông, thật tình cờ thì gặp ngay anh Hồng Văn Dinh, người có 13 đứa con cũng đi xe máy ra ngã ba chợ xóm. Anh đang đưa con đến trường học ngoài xã. Đây là đứa con duy nhất của anh, có vẻ học được nên mới tập trung, cho đến trường nội trú. Còn mấy đứa con gái lớn đi lấy chồng hết rồi. Từ hồi mới 37 tuổi, anh đã là ông ngoại của mấy đứa cháu. Anh hẹn sẽ quay về nói chuyện thêm nhiều. Chúng tôi theo hướng của các cháu bé đi dần lên ngôi trường làng chênh vênh trên sườn đồi. Ngay bên hàng rào sân trường, rặng đào rừng vẫn còn tươi rói những bông hoa đọng sương. Dường như đây là những đốm lửa sưởi ấm không gian thung lũng và tô đậm sắc mầu duy nhất nơi đây.

Xa xa những bông hoa trà trắng lấp ló bên sườn đồi. Con đường nhỏ xíu dẫn lên nương. Những cây ngô khẳng khiu như quấn lấy chân chúng tôi. Bỗng nhiên có tiếng kèn môi vang lên từ rặng cây xanh mướt. Đó là âm thanh được phát ra từ trái tim, nhịp thở của những chàng trai. Nó được ví von là những giai điệu gọi bạn tình. Chúng tôi nghe có cả tiếng con gái cười khúc khích. Rồi tiếng hát vọng từ xa. Những lời ngọt lịm: “Chiều, kìa tiếng sáo gọi em lưng đồi. Vầng trăng lên sáng rồi, bừng lên núi. Nhớ người yêu, lòng anh buồn. Buồn ăn chẳng no lòng. Kìa tiếng sáo gọi em ơi…”. Chúng tôi ngỡ mình như đang lọt vào một cuộc hát giao duyên của những chàng trai, cô gái Mông trẩy hội. Đó là khi các cô gái đã cất lời theo tiếng kèn môi. Những lời hát trong veo vang lên: “Xa anh thì nhớ. Đừng xa lòng em. Đừng thương nhớ ai ngoài em. Ngày trông tháng chờ. Một sáng anh về. Vui sống cùng anh…”. Giai điệu tình yêu làm bịn rịn những bước chân du khách. Tiếng kèn môi da diết gọi mời.

Vậy mà, ẩn sau những giai điệu đẹp, gợi về một đời sống thanh bình ấy, là cả một câu hỏi lửng lơ về nỗi nghèo khó và tình trạng sinh con đẻ cái quá nhiều nơi xóm núi heo hút này…