Cào ngao ngoài bãi Gót

GHI CHÉP CỦA NGUYỄN TRỌNG VĂN

Thứ sáu, 02/02/2018 - 10:00 AM (GMT+7)
Font Size   |         Print

Những người phụ nữ cào ngao có mặt trên bãi biển từ sớm. Ảnh tư liệu

Tôi vẫn giữ nguyên ấn tượng về những người đàn bà đã gặp. Đó là một sớm tinh sương ngày đông, bầu trời khá u ám, gió từ ngoài bãi sú vẹt thổi vào lạnh buốt. Đứng sát gần mà chúng tôi cũng chỉ nhận ra lờ mờ hình dáng của nhau và phải nhờ tới tiếng xuýt xoa của hai hàm răng cứ đánh vào nhau cành cạch.

Mũi Sa Vĩ, còn gọi là Tràng Vĩ, thuộc phường Trà Cổ, TP Móng Cái (Quảng Ninh). Người địa phương gọi là mũi Gót (bãi Gót), nơi địa đầu đất nước và cũng là nơi xuất phát của “hình Tổ quốc”. Thật tình, nếu như tôi không nảy ý định trong bộ phim tài liệu của mình dứt khoát cảnh đầu tiên phải là cảnh bình minh lên trên mũi Sa Vĩ thì chắc sẽ không có cái cảm giác ngong ngóng mà hướng mắt về phía đằng đông hồi hộp chờ mặt trời ngoi lên từ biển.

Chừng như để giúp xua đi thời gian “đằng đẵng đợi chờ”, Trung úy Đình Trung, sĩ quan Trạm Biên phòng Sa Vĩ, người được trạm phân công đi theo đoàn làm phim để hướng dẫn cho chúng tôi, lên tiếng: “Các chú, các anh có nghe thấy gì không?”. Tôi hơi ngạc nhiên bởi câu hỏi. Trung úy Đình Trung nói tiếp: “Đó, tiếng của những người cào ngao đó”. “Cào ngao?”, tôi hỏi lại. “Vâng ạ. Toàn là đàn bà con gái thôi. Họ đang rì rầm nói chuyện đấy. Đêm nào họ cũng đi cào ngao…”.

Tôi chợt chuyển hướng sự chú ý của mình vào câu chuyện cào ngao. Theo Trung úy Đình Trung thì việc cào ngao, hay nói như cách nói của người dân nơi đây thì gọi đó là “nạo vạn”, đã có từ rất lâu và hầu như công việc này do đàn bà con gái làm. Chàng sĩ quan trẻ, quê ở tỉnh Hà Nam này còn cho hay: Bãi Gót hay mũi Gót (tên gọi cũ của mũi Sa Vĩ) là nơi ngao tự nhiên về sinh sống rất nhiều và ngao ở đây ngon lắm bởi thịt chúng dày, chắc và rất ngọt nước.

Bãi Gót vươn ra ngoài biển, dài hàng cây số, ấy là khi nước thủy triều rút và lộ ra một dải đất dài xa vút, bãi lúp xúp những cây sú vẹt và lệt sệt bùn đất. Trung úy Đình Trung nói rõ thêm về bãi Gót bằng cách chỉ tay về hướng bắc. Đó là dòng sông Bắc Luân đang cuộn mình đổ ra biển. Trong ánh ngày mới lên còn mờ tỏ chúng tôi đã nhìn thấy cột mốc chủ quyền được cắm giữa dòng chảy. Tôi hỏi thêm “Còn cột mốc nào được cắm trên đất liền không?”. Trung úy Đình Trung cười vui và nói: “Nó kia. Cột mốc 1378 đó. Cột mốc này đặt chính đỉnh cực đông bắc, ngay trên bãi Sa Vĩ”. Thì ra đấy là cột dấu mốc cuối của tuyến biên giới Việt Nam - Trung Quốc, tính từ mốc số 0, trên đỉnh Khoang La San ở ngã ba biên giới ba nước Việt Nam - Lào - Trung Quốc.

Trung úy Đình Trung nói luôn: “Bà con giúp chúng cháu nhiều lắm. Nhất là trong việc gìn giữ chủ quyền đất đai sông biển. Nếu như không có bà con ngày ngày đêm đêm mưu sinh ngoài đó thì… cũng vất”.

Nắng đã lên. Mặt biển cũng nhuốm chút óng ánh của nắng. Ngày mới đang tỏ rõ sức thu hút của mình. Bãi Gót dài ra như chẳng chịu muốn chấm dứt “cuộc vươn” về phía biển của mình. Và những người đàn bà quần áo mặt mày lấm lem bùn cát, họ đang túm tụm thành nhóm. Dù đã thức suốt đêm qua nhưng như họ không hề có biểu hiện mệt mỏi. Trái lại, nét mặt ai đó cũng rạng ngời. Đêm qua họ “trúng” mẻ ngao kha khá? Cuộc mưu sinh dù vất vả nhưng có thành quả thì mệt cũng thành hứng khởi.

Tôi sán lại đám người đang tụ lại thành nhóm. Những người đàn bà ở đây đều quấn khăn che kín mặt nên rất khó xưng hô. Tôi lân la hỏi chuyện làm thân và cuối cùng cũng bắt chuyện được với một người vừa tháo khăn và ngửa cổ như để cố hít không khí ban mai. Một người đàn bà chừng 60 tuổi, dáng gầy gầy, da mặt sạm tái và có giọng nói “đặc sệt” Trà Cổ. Bà cất giọng đáp lại câu chào của tôi, giọng nói nằng nặng nhưng ánh mắt cho thấy sự cởi mở.

Tôi được thể hỏi luôn: “Là nghề của các chị à?”. Bà Hiên, tên người đàn bà đó, quay lại nhìn một lát, chắc bà đã hiểu vì sao tôi có câu hỏi “lạ lùng” đấy, người nơi khác đến ai chả vậy. “Người Trà Cổ chúng tôi sinh sống bằng nhiều nghề, nghề biển cũng lắm dạng. Cào ngao hay nạo vạn là nghề lâu đời nhất”. Tôi lại níu mắt hỏi thêm: “Nghề này như thế nào?”. - “Thường thì khoảng từ 6 giờ tối cho tới 12 giờ đêm, đó là giờ chúng tôi đi cào. Vấn đề còn là theo thủy triều lên xuống. Trước khi thủy triều rút chúng tôi đi bè máy kết bằng tre để ra mãi ngoài đầu bãi. Chờ nước ròng tức là nước rút sum súp thì xuống biển với cái cào, đầu cán cào dài được tì vào vai và đỡ bằng đầu. Cào ngao là phải đi giật lùi. Cào chạm vào ngao. Ngao biển sinh sống tự nhiên. Nước thủy triều lên thì chúng nổi lên bơi kiếm ăn. Nước bắt đầu rút thì chúng ngậm miệng lại rồi lặn xuống bùn. Cào chạm vào ngao thì dừng lại vớt lên. Đơn giản thế thôi”. Tôi lại hỏi thêm: “Cào ngao sao còn gọi là nạo vạn”. Bà Hiên cười ngặt nghẽo. Chắc bà ngỡ tôi từ xứ xa xôi nào đó đến nên hay có những câu hỏi lạ lùng. “Hiểu nôm na là thế này. Vạn là vạn đò, vạn chài, vạn lưới ấy. Còn nạo là nạo vét ấy. Có thế mà cứ hỏi”.

Đám đông tụ tập ngay đầu bãi Gót lại thêm đông đúc. Giờ thì đã có thêm những người đàn ông bộc lộ vẻ vội vã, họ phóng xe máy từ trong thành phố tới. Đó là những người chuyên chở ngao về chợ sau khi những người thu gom đã ngã giá xong xuôi. Thật ra, chuyện ngã giá cũng chỉ là thủ tục mà thôi, bởi giá ngao họ đâu có quyền quyết định. Giá ngao biển tự nhiên bao giờ cũng do “nhà mối” định ra. Hôm biển động ít ngao thì giá cao. Bữa ngọt trời ngao nhiều thì giá hạ. Hơn nữa còn phải chịu “tác động” của bên mua là phía Trung Quốc. Tôi buồn buồn nhìn những thúng, những mẹt ngao ăm ắp mà tiếc vu vơ.

Bãi Gót nằm ở vị trí khá đặc biệt với một bên cửa sông Bắc Luân có vùng biển giáp ranh Trung Quốc và một bên tiếp nối với bãi biển Trà Cổ nổi tiếng với bờ cát trắng dài hơn 10 km mang hình cánh cung. Trung úy Đình Trung cho biết, cuộc mưu sinh đó đã biến những người dân bình thường tình cờ trở thành những người Việt Nam luôn có mặt ở nơi địa đầu sóng gió. Trung úy Đình Trung chỉ tay khoát một vòng rộng. Ý chừng muốn nói công tác tuần tra đường biên, bảo vệ chủ quyền và đấu tranh giữ vững chủ quyền nếu như không dựa vào những người dân địa phương thì các anh cũng khó hoàn thành nổi.

Hơn 600 năm trước, những người vùng biển Đồ Sơn, Hải Phòng ngược biển lên biên ải. Ban đầu họ chỉ có 12 gia đình của 12 trai đinh dũng cảm. Cuộc sống nơi biên viễn xa xôi lại đúng thuở gây dựng nên khó khăn mọi bề. Sáu gia đình trụ lại và sáu gia đình quay thuyền trở về quê cũ. Vậy mà những người trụ lại đã dựng nên làng, nên nghiệp.

Phải công nhận một điều rằng: Biên cương vùng biển địa đầu Tổ quốc đã và đang có những con người bình dị. Họ nhập vào công cuộc giữ nước mà không nghĩ rằng mình đã làm một việc đầy ý nghĩa. Sự dung dị đến quên cả chính mình đã tự nhiên mà vượt qua thời gian.

Gió hát vi vu. Rừng dương Sa Vĩ vẫn rì rầm khúc ca muôn thuở của mình. Tôi chợt nhớ đến câu thơ của nhà thơ Tố Hữu: “Từ Trà Cổ rừng dương đến Cà Mau rừng đước”. Trên dải đất hình chữ S thân thương này luôn có những con người bình dị. Họ đã và đang “dấn thân” vào sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc theo cách của mình.