Người ở phố đồ xưa

TRUYỆN NGẮN CỦA LỮ THỊ MAI

Thứ sáu, 05/01/2018 - 10:27 AM (GMT+7)
Font Size   |         Print

Minh họa: NGUYỄN MINH

Người ta quen gọi y là nhà thơ, còn trên “phố đồ xưa” nơi tập hợp giới chuyên sưu tầm mua bán đồ cổ, y được xếp vào trường hợp đặc biệt vì thỉnh thoảng lại dính vào một “phi vụ” khiến anh em hội nhóm giật mình! Ấy vậy mà nhờ thú chơi đồ xưa, ngôi nhà nhỏ tọa cuối con ngõ ngoằn ngoèo của vợ chồng y lúc nào cũng thấp thỏm người qua lại. Có mối quan hệ trở thành tri kỷ, đồ cũ chỉ là cái cớ để y cùng bạn bè nhâm nhi ấm trà, chén rượu, nói dăm ba câu chuyện phiếm.

Y người ở quê ra, bản tính chân chất, quý người. Sáng sáng, y thò cổ ra khỏi nhà thì nào đồng nát, đánh giầy, tào phớ dạo... đều chào hỏi “bác bác, em em” rất thân tình. Như thể có một khúc ruột làng quê vẫn được bảo toàn vẹn nguyên giữa phố phường bấy lâu vốn bị mặc định bằng sự cách ngăn, phân biệt. Có lần, vợ y tan sở về nhà, thấy cửa mở toang, ông đánh giày đang ngồi cặm cụi làm động tác quen thuộc, trước mặt giăng ra cả chục giày cao gót phủ bụi nàng chưa kịp vứt bỏ. Nhanh như cắt, y đưa tay kéo ngay vợ vào phòng nói rất nhỏ: “Tạo việc làm cho người ta, trời rét thế này…”. Nàng hiểu tính chồng, không một lời cằn nhằn nhưng những lần như thế, đối diện gương mặt được trang điểm kỹ càng, ánh mắt nhìn lành lạnh của vợ, mười ngón tay y bỗng xoắn xuýt đan nhau, cố giữ sự im lặng cần thiết.

Cuộc sống gia đình y như một bức tranh đối lập. Vợ y công tác trong một cơ quan liên doanh nước ngoài, thu nhập cao, công việc cạnh tranh, áp lực. Nàng luôn là người ra khỏi nhà sớm nhất, về muộn nhất. Sáng nào nàng cũng ngồi trước gương thận trọng thoa đủ các lớp trang điểm, không quên lớp xịt khoáng, khoác lên người trang phục cầu kỳ nhưng thanh lịch được chuẩn bị từ đêm hôm trước, cắt đặt việc nhà, chủ yếu vẫn chuyện ăn uống sáng tối của chồng con, việc đôi bên gia đình nội ngoại, rồi tất bật dắt xe, lao ra phố. Công việc biên tập cho tạp chí văn chương của y có phần nhàn nhã. Bù lại, y luôn bận bịu pha trà, rót trà, tiếp khách, xem đồ… kể từ ngày gia nhập thành viên “phố đồ xưa”. Thỉnh thoảng, vì bản tính thật thà, y lại bị thiên hạ lừa gạt. Đương nhiên, y chẳng dại gì để chuyện tệ hại ấy lọt vào tai vợ.

Lần thì một tay chơi đồ cũ rỉ tai: “Cái đĩa men ngọc này ông cụ nhà tớ để lại, nay ông mất rồi, tớ trao cho cậu”. Lập tức y bị cuốn vào ký ức, những năm nảo năm nào với từng mầu men, họa tiết càng chẳng nỡ mặc cả nửa câu, soi mói đồ mới cũ, lành nát. Ngày mai, khách đến nhà “ô” lên một tiếng rồi tiết lộ: “Tay ấy mua của anh! Chú em bị lừa rồi!”. Như một phản xạ vô điều kiện, y nhìn quanh quất khắp nhà, canh chừng nhỡ đâu lại gặp phải ánh nhìn lành lạnh trên khuôn mặt thân quen của vợ mình nhưng nàng vẫn đang kỳ công tẩy trang liếc mắt trông chừng đứa con uống sữa. Lần khác, một tay nghệ sĩ nửa mùa, thỉnh thoảng đi hát vỉa hè qua người nọ, người kia giới thiệu thành ra quen y. Hai miền quê, hai bầu ký ức bỗng chốc trở nên thân gần, đồng điệu với những mái đình cổ kính, dòng kênh rêu xanh vắt qua cánh đồng lại uốn lượn phía sau ngôi đền ẩn sâu trong vườn cọ. Rốt cuộc, chính y cũng không ngờ mình vô tình thành “hoa tiêu” dẫn lối cho kẻ gian trộm đôi lộc bình quý được thờ nhiều đời ở ngôi chùa thiêng giữa mảnh đất mình chôn rau cắt rốn. Qua lời y tâm sự, kẻ gian tỏ tường từng lối ngang ngõ tắt, cụ thể từng gian điện thờ sư ông đặt đồ cổ. Cũng may, hắn chưa kịp mang đồ trộm cắp ra khỏi làng thì bị vây bắt. Cú sốc ấy khiến y lăn ra ốm đến nửa tháng trời, bỏ bê mọi bàn trà, tiệc rượu.

Sau cơn ốm, y quyết định khăn gói về nhà người bạn chuyên sưu tầm đồ xưa mãi vùng tỉnh lẻ cách Thủ đô vài trăm cây số chỉ vì nhớ mãi một tiếng chuông đồng hồ. Chủ nhà tâm sự, cỗ máy thời gian ấy quý giá vô cùng, quyết không bao giờ bán đi, anh em thân thiết cùng nhau thưởng trà, nghe chuông điểm từng hồi cho nhã. Đó là của hồi môn từ bố vợ. Bỗng một ngày, người ấy cấp tập gọi điện cho y đồng ý bán cỗ máy thời gian với lý do bố vợ ốm nặng, bán đi đỡ tiền phụ bố thuốc thang. Hà Nội đúng đợt mưa giông cao điểm, y vẫn đội mưa gió bão bùng tất tưởi đi, đương nhiên không soi xét, mặc cả. Hay tin y vừa về đến nhà, những con người thật từ cái “phố đồ xưa” ảo trên mạng kéo đến chật nhà. “Trong thế giới cổ ngoạn, rất ít người có thể trao đổi, mua bán bằng niềm tin và tình cảm. Có những thứ đã thành nguyên tắc, không nên phạm khi chơi dòng đồ này là: Đồ được phát giá rẻ, đồ mua lúc trời nhá nhem mưa gió hay lúc người bán nói cần tiền vì bất cứ lý do gì. Rơi vào hoàn cảnh ấy, càng phải suy xét kỹ hơn bình thường”, ai đó tế nhị phân tích để y không sốc trước món đồ giả mình đã mua với giá bằng cả một gia tài. Sau cuộc hội ý rất nhanh, tất cả thống nhất hai cách. Một là gọi “500 anh em” về “xử” kẻ đã buôn gian bán lận còn bất hiếu với cha vợ, bắt hắn nhận lại đồ, hoàn lại tiền. Hai là chiếc đồng hồ giả ấy vẫn sẽ được bán ra thị trường như bình thường bởi bất cứ ai không phải dân trong nghề đều sẽ bị lừa với sản phẩm “fake” giống thật trên 90%, “thiên hạ thiếu gì thằng thừa tiền lại thích học làm sang”. Nếu y ngại, sẽ có người bán giúp.

“Các bác để em suy nghĩ” - Y chống cằm vẻ mông lung lắm. “Cậu không phải nghĩ, trước sau gì cũng chỉ mỗi hai phương án ấy thôi!” - một giọng nói dõng dạc, quả quyết vang lên. Nhưng, y có phương án thứ ba! Y không nhớ chính xác mình đã thuyết phục ánh mắt lành lạnh, thái độ kiệm lời, kiêu hãnh của vợ thế nào mà 5 giờ sáng nàng đồng ý mang theo đứa con nhỏ bước ra taxi cùng chồng về miền quê xa xôi kia để “nói câu chuyện tình cảm” với kẻ lừa gạt mình theo cách mà y định sẵn. Tới nơi, gã kia đã tếch đi chợ giời, vợ ở nhà xác nhận bố vợ khỏe mạnh, nhà cửa khang trang, cũng không để lại cái đồng hồ nào cho con rể. Trong điện thoại, gã kia nói rất dõng dạc: “Chú em ạ, tiền trao cháo múc. Nếu chú không ưng cứ để lại, anh rao bán giúp, bao giờ bán được anh gửi tiền”.

Giữa lúc chồn chân, mỏi gối, y nhấc điện thoại lên. Một người bạn thuộc cộng đồng “phố đồ xưa” ra đón cả nhà y. Người ấy khuyên, bây giờ thực hiện theo hai cách kia vẫn chưa muộn. Y chỉ thở dài, đầu óc mông lung như lạc vào muôn tiếng chuông bất tận, chẳng biết đâu thật giả, chẳng tìm nổi lối thoát cho mình. Bất giác y quay nhìn sang vợ. Người đàn bà ấy không còn ánh mắt lành lạnh nữa, trông nàng thật nhỏ bé, bàn tay xương xương ôm đứa con nhỏ đang ngái ngủ trong lòng. Khuôn mặt nàng khi không được trang điểm kỹ lộ rõ những nếp nhăn và lấm chấm tàn nhang. Chân dung nàng trong khoảnh khắc ấy có gì đó vừa cam chịu, vừa vấn víu ngàn nỗi xót thương, trắc ẩn. Bạn y không chịu nổi sự im lặng, quyết định bấm điện thoại. Ít phút sau, một ông cụ tóc bạc, vận đồ Tây, xách cặp da sang trọng bước vào. Ông được giới thiệu là thợ sửa đồng hồ lão luyện, có cửa hiệu lâu năm. Nghe câu chuyện bèn đề nghị: “Thôi cậu để tôi nhận về, đồ gì giả bỏ đi, thật giữ lại rồi phục chế dần. Người ta lừa mình rồi, mình không lừa người khác được”. Mắt y rưng rưng, bừng lên tia sáng. Y bày tỏ rằng ông cứ việc ra giá, giá nào y cũng “tiễn đưa”. Người thợ sửa đồng hồ lại im lặng, hồi lâu mở lời: “Tôi sợ nói giá thấp cậu sẽ buồn, hoặc có khi lại nghĩ lão già này gian dối...”. Câu chuyện chùng xuống, căn nhà rộng thênh của bạn y chỉ còn tiếng “bing boong” sau cái gật đầu. Một người thợ giỏi luôn có cách phục chế đồ hỏng nhưng những nỗi buồn, những thương tổn vì tấm lòng chân thật biết làm sao nguôi.

Đêm ấy, y mơ mãi một giấc mơ, người đàn bà của mình đi lạc vào những hồi chuông của cỗ máy thời gian bung biêng, rợn ngợp. Nàng biết đâu là thật giả, mắt nàng mênh mang mù sương. Đã rất lâu rồi y không nhìn vào đó quá vài phút nên y chỉ một cảm giác lành lạnh, nào biết nông sâu thế nào. Trong ngôi nhà tưởng chừng có hai thế giới tách biệt ấy, những tiếng chuông lòng người vẫn lặng lẽ trôi qua nhau, vẫn ngân rung đầy khắc khoải và lần lẫn vào nhau khi con người chạm đến tận cùng buồn đau, thương tổn.