Tận dụng hiệu quả các FTA

THU THỦY, ĐẶNG THÀNH

Thứ năm, 18/04/2019 - 05:30 PM (GMT+7)
Font Size   |         Print

Mặt hàng giày - dép xuất khẩu hiện có tỷ lệ tận dụng C/O ưu đãi theo FTA đạt gần như tuyệt đối. Ảnh: HẢI NAM

Việc mở cửa thị trường, ký kết các hiệp định thương mại tự do (FTA) mới chỉ là điều kiện để các doanh nghiệp (DN) Việt Nam mở rộng thị trường. Điều quan trọng để DN phát triển vẫn là việc thay đổi môi trường kinh doanh và thể chế pháp lý. Đây mới chính là yếu tố tạo “cú huých” lớn cho tăng trưởng kinh tế thật sự bền vững.

Chưa tận dụng hết ưu đãi thuế quan

Thời gian qua, Bộ Công thương đã ký kết nhiều FTA. Với các ưu đãi rõ rệt về giảm thuế, các FTA này được kỳ vọng giúp hàng hóa Việt Nam vươn ra thị trường thế giới. Thống kê cho thấy, năm 2018, các cơ quan, tổ chức được ủy quyền đã cấp 942.371 bộ Giấy chứng nhận xuất xứ (C/O) ưu đãi (bao gồm theo FTA và GSP) với trị giá 50,9 tỷ USD, tăng 35% về trị giá và 25% về số lượng bộ C/O so năm 2017. Mức tỷ lệ tận dụng ưu đãi 39% phản ánh DN và hàng hóa XK từ Việt Nam đang dần nâng cao tỷ lệ tận dụng ưu đãi thuế quan tại các thị trường có FTA với Việt Nam trong những năm qua. Tổng kim ngạch xuất khẩu (KNXK) sử dụng các loại C/O ưu đãi theo các FTA năm 2018 đạt 46,2 tỷ USD, chiếm 39% tổng KNXK sang các thị trường mà Việt Nam ký FTA. Tỷ lệ sử dụng C/O ưu đãi tương đối ổn định, tương ứng với KNXK sang các thị trường này.

Xét theo mặt hàng XK, giày - dép hiện là mặt hàng có tỷ lệ tận dụng C/O ưu đãi theo FTA đạt gần như tuyệt đối (100%) với KNXK sang các thị trường ký FTA với Việt Nam là 3,85 tỷ USD, tăng 30% so năm 2017. Nhựa và các sản phẩm nhựa đứng thứ hai với tỷ lệ tận dụng 73,5%, có KNXK được cấp C/O ưu đãi 1,82 tỷ USD, tăng 52% so năm 2017. Tiếp đó là sản phẩm dệt - may với KNXK được cấp C/O ưu đãi đạt 7,48 tỷ USD, chiếm tỷ lệ 68,2% trong tổng KNXK nhóm mặt hàng này (gần 11 tỷ USD) sang các thị trường có FTA và tăng 33% so KNXK được cấp C/O ưu đãi của mặt hàng này năm 2017.

Tuy nhiên, phát biểu ý kiến tại một hội thảo kinh tế được tổ chức tại TP Hồ Chí Minh mới đây, ông Trần Ngọc Liêm, Phó Giám đốc Chi nhánh Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) tại TP Hồ Chí Minh lại cho rằng, các FTA chúng ta ký kết với các nước tạo ra rất nhiều cơ hội nhưng cơ hội tận dụng từ các FTA đối với DN trong nước rất thấp. Khảo sát của VCCI cho thấy, các lô hàng Việt xuất đi các nước mà Việt Nam có ký FTA, quốc gia mà Việt Nam được hưởng thuế quan nhiều nhất (mức 80%) là Hàn Quốc, dựa trên tổng số lô hàng mà DN xuất sang thị trường này. Còn ở các thị trường còn lại chỉ khoảng 20 - 40%. Như vậy, so những cam kết trên giấy tờ, tỷ lệ chúng ta thật sự hưởng lợi từ các FTA còn thấp.

Theo ông Trần Ngọc Liêm, nói là DN ra biển lớn nhưng có một thực tế là chúng ta đang nhiều nguy cơ bị xâm lấn, thua thiệt ngay tại thị trường trong nước. Thực tế, chính sách của chúng ta vẫn còn những bất cập và dường như DN có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vẫn được ưu ái hơn trong khi hơn 97% số DN Việt Nam là nhỏ và vừa. Thế nên tổn thương từ hội nhập của DN không hề nhỏ.

Còn bất cập về chính sách

Nhìn nhận những lực cản của DN Việt Nam trong quá trình phát triển, ông Nguyễn Quốc Kỳ, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc Công ty Vietravel cho rằng, một số quy định như hiện nay là chưa thật sự phù hợp. Cụ thể, DN muốn sang mở DN ở Thái-lan thì phải có 51% số người Thái làm việc, đưa một người nước ngoài sang phải có ba người Thái-lan làm việc và lương không dưới 970 USD/người/tháng dù có làm hay không. Trong khi, quy định các nước sang Việt Nam mở rất dễ. Hay với luật về hàng không, Vietravel đứng đầu Việt Nam về Charter Flight (chuyến bay thuê bao dành riêng cho du khách của một hãng lữ hành bay đi nước ngoài và bay về Việt Nam). Mỗi năm Vietravel có khoảng 400 chuyến. Hôm khánh thành Sân bay quốc tế Vinh, Vietravel được yêu cầu đưa du khách bay sang Bangkok, nhưng chở sang thì được, lấy khách bay về lại không cho.

Không chỉ nêu những bất cập về chính sách, ông Nguyễn Quốc Kỳ cho rằng, DN còn rất khó khăn khi tiếp cận nguồn vốn. Hệ thống ngân hàng của Việt Nam hoạt động ngày càng tốt, có nhiều sự đổi mới và duy trì độ ổn định cao nhưng tỷ lệ cấp vốn cho DN nhỏ và vừa chỉ 22%. Các DN này phải cầm cố tài sản... mới đủ điều kiện cấp vốn.

Chia sẻ về vấn đề này, ông Nguyễn Hoàng Minh, Phó Giám đốc Ngân hàng Nhà nước chi nhánh TP Hồ Chí Minh lại cho rằng, thanh khoản hiện nay của hệ thống ngân hàng khá dồi dào với tỷ lệ 75% vốn vẫn dành cho sản xuất, kinh doanh, 11% dành cho lĩnh vực bất động sản và 14% dành cho lĩnh vực tiêu dùng. Hệ thống ngân hàng luôn tạo mọi điều kiện, mở rộng cửa đối với DN, kể cả DN vừa và nhỏ. Đối với DN nhỏ, nếu bảo đảm phương án tài chính kinh doanh rõ ràng thì ngân hàng vẫn cho vay, thế chấp từ dòng tiền bán hàng, từ nguồn thu của DN.

Tuy nhiên, ông Nguyễn Hoàng Minh cũng thừa nhận, ngân hàng là một ngành cho vay có điều kiện, nên sẽ khó tham gia cho vay đối với các công ty khởi nghiệp do không có tài sản bảo đảm.

Trước những thắc mắc về thủ tục hành chính cho DN, bà Lê Thị Huỳnh Mai, Phó Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư TP Hồ Chí Minh chia sẻ, năm 2019, TP Hồ Chí Minh đặt là năm cải cách đột phá về hành chính. Đặc biệt, trong vấn đề đăng ký kinh doanh của DN, Sở đã thực hiện mô hình “3 trong 1” và “4 trong 1” của DN. Chúng tôi đã đăng ký cam kết với VCCI giảm 30 - 40% tùy theo loại thủ tục, số ngày đăng ký theo quy định 15 ngày nhưng chúng tôi giảm xuống 7 - 8 ngày, cam kết đột phá thủ tục, giảm số lượng ngày ngắn hơn để nhà đầu tư có thể tham gia đầu tư vào thành phố nhanh nhất…

Chia sẻ với ý kiến của bà Lê Thị Huỳnh Mai, ông Trần Ngọc Liêm nhìn nhận, chính những thay đổi môi trường kinh doanh và thể chế pháp lý tạo “cú huých” lớn cho tăng trưởng kinh tế thật sự và bền vững. Với riêng TP Hồ Chí Minh, UBND thành phố đã giao chín đầu mối tiếp cận, giải quyết nhu cầu vốn cho DN trên địa bàn, gồm Ngân hàng Nhà nước TP Hồ Chí Minh, Sở Công thương, Hiệp hội DN thành phố, UBND 24 quận, huyện, Ban Quản lý khu công nghiệp - khu chế xuất Hepza, Ban Quản lý khu công nghệ cao, Ban Quản lý khu phần mềm Quang Trung, các hợp tác xã.

Tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền

Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công thương) đánh giá, việc tận dụng tốt ưu đãi từ các FTA là do công tác tuyên truyền, phổ biến, giảng dạy về quy tắc xuất xứ được đặc biệt chú trọng, góp phần nâng cao hiểu biết và việc áp dụng của DN để hưởng ưu đãi thuế quan, tận dụng cơ hội FTA mang lại. Bên cạnh đó, việc các DN FDI được thành lập tại Việt Nam cho phép sử dụng chuỗi nguyên liệu nội khối FTA và áp dụng nguyên tắc cộng gộp xuất xứ đối với hàng hóa Việt Nam XK đi các thị trường FTA. Việc đàm phán bộ C/O phù hợp trình độ sản xuất của Việt Nam đã góp phần giúp DN tích cực, chủ động sử dụng C/O để nâng cao tính cạnh tranh của hàng hóa và tận dụng được ưu đãi FTA giúp hàng hóa Việt Nam vươn ra thị trường thế giới.

Thời gian tới, Bộ Công thương sẽ tiếp tục đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, phổ biến chuyên sâu về C/O tại các cam kết quốc tế mà Việt Nam tham gia, tập trung vào các ngành hàng XK chủ đạo của Việt Nam. Việc tuyên truyền có xét đến yếu tố vùng miền, địa phương đặc trưng của Việt Nam cho cán bộ xuất nhập khẩu (XNK) của các công ty, công chức của các tổ chức cấp C/O và các đối tượng khác. Các khóa tập huấn/hội thảo được tổ chức trải dài hầu khắp các tỉnh, thành phố, vùng miền trên toàn lãnh thổ Việt Nam, tập trung tại các địa phương có các đơn vị được Bộ Công thương ủy quyền cấp C/O và nơi tập trung các khu công nghiệp lớn, có các DN hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, XNK. Từ đó, nâng cao hiệu quả tận dụng các FTA cho DN. Bộ Công thương cũng đã và đang phối hợp chặt chẽ các cơ quan có thẩm quyền trong việc thẩm tra, xác minh C/O để hàng XK Việt Nam được hưởng ưu đãi thuế quan, nhằm bảo đảm tối đa hóa việc tận dụng FTA.