Nhiệt điện than: Rẻ hay đắt?

BÀI & ẢNH: DUY KHANG

Thứ năm, 14/06/2018 - 09:17 AM (GMT+7)
Font Size   |         Print

Xu hướng chung của thế giới là loại bỏ các nhà máy nhiệt điện than ra khỏi quy hoạch.

Theo Đề án Điều chỉnh Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2011 - 2020 có xét đến năm 2030 (gọi tắt là Quy hoạch điện VII) , nguồn nhiệt điện than vẫn đang chiếm một tỷ lệ lớn, vì đây vẫn được coi là nguồn điện có chi phí thấp nhất. Tuy nhiên, những áp lực cho môi trường chính là mối lo ngại lớn nhất khi xây dựng các nhà máy nhiệt điện than.

Áp lực lớn về môi trường

Theo đánh giá của giới chuyên gia kinh tế, nếu có thể áp dụng các chính sách sử dụng năng lượng hiệu quả kết hợp phát triển năng lượng tái tạo, Việt Nam có thể cắt giảm khoảng 30.000 MW nhiệt điện than vào năm 2030, tương đương 25 nhà máy nhiệt điện than.

Liên quan đến các nhà máy nhiệt điện than, không ít ý kiến đang bày tỏ những lo ngại của nguồn điện này tác động đến môi trường sống. Không chỉ có vậy, việc tìm các bãi chứa tro xỉ được thải ra từ các nhà máy nhiệt điện than cũng là một bài toán khó. Trong khi đó, việc tái sử dụng tro xỉ dù đã được bàn đến nhiều, nhưng trên thực tế không phải tro xỉ của nhà máy nhiệt điện than nào cũng có thể dùng được ngay, thậm chí nếu có thể dùng được ngay nhưng chi phí vận chuyển từ nơi phát thải đến nơi tiêu thụ quá tốn kém. Đó là lý do tại sao, doanh nghiệp (DN) hầu như không mặn mà. Có thể thấy, việc phát triển các nhà máy nhiệt điện than với bài toán về môi trường đang nảy sinh khá nhiều mâu thuẫn.

Nhận định về vấn đề này, bà Nguỵ Thị Khanh, Giám đốc Trung tâm Phát triển và Sáng tạo Xanh (GreenID) cho hay, mặc dù Quy hoạch điện VII điều chỉnh đã cắt giảm khoảng 20.000 MW điện than, song nguồn điện này vẫn chiếm khoảng 43% cơ cấu nguồn vào năm 2030. Hiện tại giá nhiệt điện than được cho là rẻ hơn các loại năng lượng tái tạo vì chưa bao gồm chi phí ngoại biên (là chi phí môi trường, xã hội, sức khỏe…). Theo bà Khanh, đây là chi phí có thực mà người dân và Chính phủ đang và sẽ phải gánh chịu chứ không phải các nhà đầu tư.

Xét về phương diện kinh tế, nhiều ý kiến cho rằng, với mức giá thấp hơn hẳn so với chi phí của các nguồn năng lượng tái tạo khác, phát triển nhiệt điện than được ưu tiên hơn cả. Tuy nhiên, theo tính toán, nếu đánh giá một dự án nhiệt điện than tồn tại hơn 30 năm từ khi đưa vào vận hành đến khi kết thúc đời dự án thì giá thành lại không hề thấp. Bởi nguồn than khai thác trong nước ngày càng hạn chế, để đáp ứng nhu cầu của các nhà máy thì phải tính đến việc nhập khẩu than. Trên thực tế, việc nhập khẩu than đã được Nhà nước tính đến, nhưng nếu cứ phụ thuộc mãi nguồn này, bài toán về kinh tế lại không còn rẻ nữa. Bởi lẽ, giá than sẽ ngày càng tăng cao kéo theo chi phí về nhiên liệu trong giá thành mỗi kWh sẽ tăng lên, không thể dưới 10 cent/kWh cho nhiệt điện than. Đó còn chưa kể đến những bất cập liên quan đến môi trường do tro xỉ thải ra từ các nhà máy nhiệt điện than vẫn chưa tìm ra phương án giải quyết dứt điểm.

Hướng tới an ninh năng lượng

Theo bà Ngụy Thị Khanh, GreenID đã đưa ra nghiên cứu với năm kịch bản để đáp ứng nhu cầu năng lượng ngày càng tăng cao của Việt Nam. Các kịch bản được xây dựng theo hướng tiếp cận tối ưu hóa chi phí, xem xét các chi phí ngoại biên từ tác động ô nhiễm không khí và phát thải các-bon. Trong đó ưu tiên áp dụng các giải pháp về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả đồng thời tăng tỷ trọng của năng lượng tái tạo. Việc áp dụng các kịch bản này sẽ giúp cắt giảm 30.000 MW điện than, tương đương với 25 nhà máy điện than sẽ được đưa ra khỏi quy hoạch. So với Quy hoạch điện VII điều chỉnh, bản thiết kế này đề xuất đến năm 2030 tăng tỷ trọng năng lượng tái tạo từ khoảng 21% lên 30%; tăng tỷ trọng nhiệt điện khí từ 14,7% lên 22,8%; và giảm tỷ trọng của nhiệt điện than từ 42,6% xuống chỉ còn 24,4%.

Bà Khanh cho rằng, kịch bản đưa ra sẽ giúp Việt Nam tăng cường an ninh năng lượng do giảm tỷ lệ nhập khẩu than, giảm xây dựng các nhà máy điện mới, giảm áp lực huy động khoảng 60 tỷ USD vốn đầu tư cho những dự án nhiệt điện than này, và đặc biệt là giảm phát thải khoảng 116 triệu tấn CO2, giảm ô nhiễm không khí và nguồn nước.

Trao đổi về vấn đề an ninh năng lượng, bảo đảm yếu tố “xanh”, ông Nghiêm Vũ Khải, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam cho rằng, chuyển dịch sang năng lượng xanh là rất quan trọng và cần thiết vì Việt Nam là một trong số ít các quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi biến đổi khí hậu. Hơn nữa, phát triển xanh là hướng đi thông minh cho Việt Nam, một quốc gia có tiềm năng năng lượng tái tạo dồi dào, đặc biệt là năng lượng mặt trời và gió.

Phát triển năng lượng tái tạo cũng là một hướng đi hợp lý để Việt Nam tránh phụ thuộc vào năng lượng nhập khẩu. Tuy nhiên, hiện vẫn còn nhiều thách thức đòi hỏi nỗ lực lớn và bước đi phù hợp của tất cả các bên liên quan để công nghệ năng lượng tái tạo được đi vào thực tế phát triển và áp dụng.

Các chuyên gia ngành năng lượng khuyến cáo, tới đây, việc sử dụng năng lượng tiết kiệm hiệu quả không chỉ dừng ở “khuyến khích” mà phải là “bắt buộc” để bảo vệ sự phát triển bền vững, như sử dụng năng lượng mặt trời tại các tòa nhà, mái nhà; xem xét đến các công nghệ mới trong năng lượng tái tạo. Do vậy, theo bản thiết kế đề xuất của GreenID, Việt Nam có thể có đủ điện dùng mà vẫn bảo đảm môi trường và sức khỏe cho người dân.