Đưa hàng nông sản ra thế giới

THU THỦY, ĐẶNG THÀNH

Thứ hai, 12/03/2018 - 04:44 AM (GMT+7)
Font Size   |         Print

Nâng cao chất lượng nông sản hướng tới chinh phục các thị trường khó tính. Ảnh: NAM ANH

Nhiều năm qua, nông sản Việt Nam luôn quẩn quanh với những nỗi lo: “tồn, ứ, dư, thừa”, “được mùa, mất giá”, “giải cứu”… Đã đến lúc, công tác xúc tiến thương mại (XTTM) cần có sự thay đổi cơ bản về tư duy và phương thức thực hiện. Thực tế, thay vì tổ chức các hội nghị, triển lãm hàng hóa, nhiều địa phương đã chuyển hướng đưa các đoàn thương nhân đến tận ruộng đồng để bàn chuyện làm ăn với bà con nông dân…

Kỳ 2: Đổi mới xúc tiến thương mại

Đưa thương nhân xuống đồng

Giao thương “bàn giấy” có lẽ đã không còn phù hợp bối cảnh kinh doanh hiện nay, nhất là kinh doanh mặt hàng nông sản. Bởi thế, trong năm 2017, Vụ Thị trường trong nước (Bộ Công thương) đã “làm mới” một số khâu trong công tác XTTM, trong đó có việc tổ chức đưa các đoàn thương nhân nước ngoài đến các vùng nguyên liệu: xoài, thanh long, dứa… để họ tận mắt thấy quy trình sản xuất và bàn trực tiếp chuyện làm ăn. Các chuyên viên của Bộ hay của Sở Công thương tại các địa phương đó chỉ đóng vai người kết nối.

Phó Vụ trưởng Thị trường trong nước (Bộ Công thương) Hoàng Anh Tuấn đánh giá, cách làm trực quan này chỉ mất thêm công đi nhưng giảm được tốn kém từ hội họp và mang lại hiệu quả nhờ nhu cầu về “cung - cầu” hàng hóa giữa người bán và người mua được bàn thảo trực tiếp.

Đơn cử, trước đây người trồng thanh long tại Bình Thuận thường “đau đầu” vì “đầu ra” thiếu ổn định. Tuy nhiên vài năm gần đây, nhờ biết cách tiếp thị, thanh long đã được tiêu thụ ổn định, giá lại cao hơn trước. Giám đốc Sở Công thương tỉnh Bình Thuận Đỗ Minh Kính cho biết, tỉnh hiện có hơn 27.000 ha trồng thanh long, sản lượng đạt khoảng 600.000 tấn/năm. Thanh long Bình Thuận tiêu thụ nội địa khoảng 15%, xuất khẩu (XK) 85% vào 16 thị trường, trong đó 70% là thị trường châu Á. Thanh long Bình Thuận XK chính ngạch chưa nhiều, chủ yếu xuất qua đường biên mậu. Cách này tiềm ẩn nhiều rủi ro về giao nhận, thanh toán. Do vậy Bình Thuận đang tập trung cho những lô hàng XK chính ngạch để hướng đến một thị trường minh bạch, an toàn và bền vững hơn. Ngành Công thương tỉnh Bình Thuận đã tổ chức mời đoàn thương nhân nước ngoài trực tiếp đến các vườn thưởng thức hương vị của thanh long được canh tác theo phương pháp mới, đồng thời bàn chuyện mua bán trực tiếp với bà con nông dân.

Tương tự, trong năm 2017, Sở Công thương TP Hồ Chí Minh cũng đã triển khai nhiều giải pháp làm cầu nối gắn kết doanh nghiệp (DN) thành phố với các tỉnh; thông qua việc tổ chức các đoàn của thành phố và DN đưa sản phẩm về các tỉnh, tạo điều kiện cho DN các tỉnh kết nối, mở rộng thị trường tiêu thụ. Hiện tại, đã có 75 dự án (DA) đầu tư sản xuất, liên kết đầu tư giữa DN thành phố với các tỉnh, thành phố với tổng vốn đầu tư đạt 27.428 tỷ đồng, gồm các DA nuôi trồng, chế biến thực phẩm, xây dựng nhà máy, trang trại… Trong đó, liên kết cung ứng vốn cho nông dân chăn nuôi nông sản sạch đạt 2.500 tỷ đồng mỗi năm.

Phó Giám đốc Sở Công thương TP Hồ Chí Minh Nguyễn Phương Đông chia sẻ, vừa qua, ngành công thương thành phố đã tổ chức nhiều đoàn, nhiều đợt trực tiếp đến gặp nhà sản xuất, người nông dân trên những cánh đồng trồng hoa, quả… Trong những cuộc gặp gỡ bàn thảo trực tiếp như thế, chuyện hợp tác kinh doanh đã được rút ngắn và trở nên dễ dàng hơn, giảm được những tầng nấc trung gian, giảm thiểu rủi ro trong chuỗi sản xuất hàng hóa. Hơn thế, còn giúp nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm chi phí sản xuất, gia tăng giá trị và tính cạnh tranh của sản phẩm…

Chinh phục thị trường khó tính

Theo số liệu thống kê từ Tổng cục Hải quan, trong tháng 1-2018, riêng kim ngạch XK mặt hàng rau quả đạt 383,7 triệu USD, tăng 18,3% so tháng trước, tăng 63,6% so cùng kỳ năm 2017. XK rau quả của Việt Nam sang các thị trường chính đều tăng mạnh. Ngoài thị trường chính là Trung Quốc, trong tháng 1-2018 Việt Nam còn XK rau quả tới một số thị trường khác như: Mỹ, Nhật Bản, Thái-lan, Hàn Quốc, Malaysia… Đáng chú ý, kim ngạch XK hàng rau quả sang thị trường Nhật Bản đạt 10,6 triệu USD, tăng nhẹ so tháng trước và tăng tới 77,5% so cùng kỳ năm 2017.

Còn theo số liệu thống kê của Trung tâm Thương mại Quốc tế (Trademap– ITC), năm 2017, trị giá nhập khẩu (NK) rau quả của Nhật Bản đạt 9,5 tỷ USD, tăng 2% so năm 2016. Hiện, Việt Nam đã XK được thanh long ruột đỏ, xoài, vải thiều, lá tía tô… sang thị trường Nhật Bản. Tuy nhiên, Nhật Bản là thị trường có yêu cầu khắt khe về tiêu chuẩn và chất lượng hàng hóa, vệ sinh an toàn thực phẩm (VSATTP). Trị giá NK hàng rau quả từ Việt Nam mới chỉ chiếm tỷ trọng rất nhỏ so nhu cầu NK tại Nhật Bản, đạt 132,5 triệu USD trong năm 2017, tăng 5,2% so năm 2016.

Theo các chuyên gia, để đẩy mạnh XK hàng rau quả sang Nhật Bản, các DN XK của Việt Nam phải đáp ứng các yêu cầu khắt khe về kiểm dịch thực vật, VSATTP, hay trong quy trình sản xuất, DN phải có vùng nguyên liệu được Cục Bảo vệ thực vật cấp mã số vùng trồng và được sản xuất theo quy trình bảo đảm VSATTP.

Tham tán thương mại Việt Nam tại Nhật Bản Tạ Đức Minh chia sẻ, thị trường Nhật Bản đánh giá cao nhiều mặt hàng nông sản của Việt Nam, đặc biệt với việc lô thịt gà được XK sang Nhật Bản đã chứng minh sản phẩm nông sản của Việt Nam đã qua được “phép thử” tại thị trường khó tính này. Cùng với đó là các mặt hàng chuối, xoài đang có nhiều tiềm năng. Tuy nhiên, giá cả XK các mặt hàng này vẫn còn cao, khó cạnh tranh với các sản phẩm của Thái-lan do sản phẩm dễ bị hỏng và khâu vận chuyển còn khá tốn kém.

Để nông sản Việt Nam đứng vững chân và phát triển thị phần trong các thị trường khó tính là vấn đề không đơn giản, Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR) khuyến nghị, yếu tố cốt lõi vẫn phải là gia tăng chất lượng sản phẩm và công tác XTTM cho các sản phẩm nông sản, đặc biệt là cập nhật kịp thời các thông tin nhu cầu và tiêu chuẩn về sản phẩm NK của từng thị trường. Nếu không bảo đảm về chất lượng, VSATTP, chúng ta sẽ khó tránh khỏi các cuộc khủng hoảng dư thừa như đã diễn ra đối với mặt hàng thịt lợn, dưa hấu...

Chủ động “giảm lượng, tăng chất”

Theo thông tin được đưa ra từ cuộc họp mới đây của Hiệp hội Điều Việt Nam (Vinacas), ngành điều sẽ chủ động giảm sản lượng XK trong năm nay, mà theo tính toán, đồng nghĩa với việc kim ngạch XK từ 3,62 tỷ USD năm 2017 sẽ giảm còn 3 tỷ USD. Cụ thể, Vinacas đang chủ động giảm sản lượng XK từ 362.000 tấn năm 2017 xuống 300.000 tấn trong năm 2018 nhằm tăng giá trị hạt điều Việt Nam.

Không chỉ ngành điều, việc “giảm lượng, tăng chất” cũng cần thực hiện ở những nông sản khác vốn dĩ đứng đầu thành tích xuất thô, giá trị thấp. Quan trọng là cần quyết tâm lớn từ các DN chế biến nông sản. Thực tế, vừa giảm sản lượng vừa giảm kim ngạch hẳn sẽ làm những ai quan tâm đến các con số về thành tích XK hạt điều nói riêng và XK nông sản nói chung có cảm giác hụt hẫng. Tuy nhiên, nếu hiểu rõ lợi nhuận mang lại cho DN không cao, xuất nhiều mà giá trị gia tăng lại thấp, thậm chí còn phụ thuộc nguồn nguyên liệu NK thì việc “giảm lượng, tăng chất” là điều cần làm ngay với nhiều loại nông sản vốn dĩ có quá nhiều thành tích về XK chạy theo số lượng. Ngay như lĩnh vực XK gạo hiện nay cũng cần ghi nhận những chuyển dịch tích cực từ phía DN trong cơ cấu sản phẩm XK.

XK gạo trong năm 2018 vẫn đang trên đà tăng trưởng rất tích cực, nhu cầu NK và sử dụng gạo trên thế giới đang rất lớn và sẽ tăng. Việc XK gạo của Việt Nam cũng đã thay đổi rất nhiều, đặc biệt là về chất lượng nên đã đáp ứng các khách hàng khó tính trên thế giới. Đây chính là yếu tố thuận lợi để XK gạo Việt Nam tăng trưởng tốt về “chất” trong năm 2017 vừa qua, kể cả về số lượng và về kim ngạch. Có thể thấy sự chuyển biến từ ngành hàng lúa gạo hay sự chủ động giảm sản lượng XK, tăng giá trị trong ngành điều hiện nay là vấn đề mà các DN trong những ngành hàng nông sản khác cần tham khảo để có chiến lược phù hợp.

Mục tiêu của Việt Nam cần làm là hướng tới XK nông sản bền vững. Điều đó đòi hỏi phải tái cấu trúc các ngành hàng nông sản. Các DN XK nông sản nên có sự điều chỉnh về mặt tư duy, không nên cố chạy theo số lượng. Để làm được điều này phải có chiến lược đúng về nguồn nguyên liệu. Những vùng nguyên liệu trước đây giúp cho việc XK vào những thị trường trung, cao cấp được ổn định nên tiếp tục đầu tư chiều sâu từ các khâu giống, chăm sóc, chế biến, đóng gói… Điều này cần một lộ trình từ phía DN trong một nỗ lực nhằm giảm những chi phí không cần thiết. Về phía Nhà nước cũng cần có nhiều hỗ trợ trong việc “giảm lượng, tăng chất” mang tính căn cơ cho ngành nông sản.

(Còn nữa)