Nâng cao vị thế hàng Việt Nam

THU THỦY, ĐẶNG THÀNH

Thứ sáu, 05/01/2018 - 11:06 AM (GMT+7)
Font Size   |         Print

Với ngành ô-tô, tỷ lệ nội địa hóa thấp dẫn đến giá xe chưa đủ sức hấp dẫn với các nước trong khu vực. Ảnh: HẢI NAM

Theo cam kết Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA), từ ngày 1-1-2018, có đến 669 dòng thuế nhập khẩu (NK) sẽ giảm xuống 0%, bao gồm: ô-tô, xe máy, phụ tùng linh kiện ô-tô, xe máy, hoa quả nhiệt đới… Hàng Việt Nam nếu muốn đứng vững phải chứng tỏ được năng lực cạnh tranh ở cả thị trường trong nước và quốc tế. Tuy nhiên, số thương hiệu có thể đáp ứng điều này rất ít do chất lượng, uy tín, mẫu mã… của hàng Việt Nam vẫn còn những hạn chế.

Kỳ 1: Đối mặt với khó khăn, thách thức

Nỗi lo từ những cuộc thâm nhập “hợp pháp”

Theo Thứ trưởng Công thương Đỗ Thắng Hải, năm 2018 là thời điểm bước ngoặt hết sức quan trọng thực thi các cam kết quốc tế về hội nhập của Việt Nam với ASEAN. Theo đó, Việt Nam cắt giảm 98% biểu thuế trong ASEAN, bao gồm: ô-tô, xe máy, phụ tùng linh kiện ô-tô, xe máy, hoa quả nhiệt đới… trừ xăng dầu.

Thực tế, ATIGA được ký kết từ năm 2009, tuy nhiên đến nay, các doanh nghiệp (DN) trong ngành mía đường thừa nhận vẫn chưa chuẩn bị cho việc đường từ các nước trong khối ASEAN sẽ không còn bị hạn chế NK Việt Nam. Đến nay, hàng chục nhà máy đường đang đứng trước nguy cơ đóng cửa vì ATIGA, sản phẩm làm ra không thể cạnh tranh với đường trong khu vực, cụ thể là Thái-lan.

Với ngành ô-tô, thời gian gần đây, các hãng trong nước đã tiến hành giảm giá ở mức chưa từng có với nhiều dòng xe, tuy nhiên, so giá xe trong khu vực vẫn chưa đủ sức hấp dẫn. Một trong những nguyên nhân là vì tỷ lệ nội địa hóa của Việt Nam quá thấp. Thuế 0%, xe ô-tô NK nguyên chiếc từ Thái-lan, Indonesia sẽ không bỏ qua thời cơ đổ bộ vào Việt Nam.

Hay mới đây, việc thoái vốn ở Sabeco sẽ chẳng có gì đáng bàn nếu Vietnam Beverage không được nắm giữ tới 49% bởi Beer Co.Ltd, DN bia do Thailand Beverage (ThaiBev) sở hữu 100% có trụ sở tại Hồng Công (Trung Quốc). ThaiBev gắn liền với tỷ phú Thái-lan Charoen Sirivadhanabhakdi.

Theo chuyên gia kinh tế Đinh Trọng Thịnh, thương vụ này là minh chứng cho việc tham gia Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) và hội nhập kinh tế đang giúp các nhà đầu tư (NĐT) nước ngoài dễ dàng thâm nhập thị trường Việt Nam. NĐT nước ngoài được quyền mua cổ phiếu, đầu tư và nắm giữ DN của Việt Nam theo đúng mong muốn. Họ đã đến Việt Nam một cách đúng luật!

Mối lo hàng hóa Việt Nam càng trở nên yếu thế trên “sân nhà” hơn khi thị phần các kênh bán lẻ hiện đại đang do DN có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chi phối. Đến hết năm 2016, theo ước tính, DN FDI đã chiếm khoảng 50% kênh bán hàng hiện đại. Trên thị trường, tuy chỉ có khoảng 100/700 điểm bán trong phạm vi toàn quốc, song mỗi điểm bán của họ có doanh số gấp từ 7 đến 10 lần điểm bán hàng của DN Việt Nam.

Theo đánh giá của Bộ Công thương, các DN FDI đã chiếm 70% thị phần bán lẻ cửa hàng tiện lợi, 15% thị phần siêu thị nhỏ, 50% thị phần qua các hình thức bán hàng trực tuyến. Như vậy, cạnh tranh bán lẻ không chỉ diễn ra ở mô hình siêu thị và trung tâm thương mại, mà còn ở các hình thức bán hàng khác. Nhiều vụ thôn tính mạng lưới thông qua mua bán và sáp nhập (M&A) liên tục diễn ra trong 2 đến 3 năm qua như các thương vụ của NĐT Thái-lan đối với Metro, BigC, Nguyễn Kim. Với lợi thế cạnh tranh về nhiều mặt, trong đó có yếu tố mạng lưới phân phối, hầu hết những điểm đắc địa đã về tay DN nước ngoài.

Chuyên gia bán lẻ Vũ Vinh Phú, nguyên Chủ tịch Hội Siêu thị Hà Nội, cho rằng, chúng ta cần nhận thức đúng vai trò và tầm quan trọng của hệ thống phân phối nội địa, nếu mất hệ thống phân phối tức là mất cả nền sản xuất quốc gia.

Thương hiệu yếu, thiếu kết nối cung - cầu

Tại Hội thảo “Nâng cao năng lực cạnh tranh thương hiệu Việt trong hội nhập quốc tế” diễn ra mới đây, Phó Vụ trưởng Thị trường trong nước (Bộ Công thương) Lê Việt Nga cho biết, tỷ lệ hàng Việt Nam tại các hệ thống siêu thị đã lên đến hơn 70%. Trong đó, một số siêu thị như: Big C, Co.opmart… hàng Việt Nam chiếm hơn 90%. Hiện đã thiết lập được 90 điểm bán hàng Việt Nam với tên gọi “Tự hào hàng Việt Nam” tại 52 tỉnh, thành phố trên cả nước… Bộ Công thương cũng đã chủ động kết nối cung - cầu nhằm hỗ trợ tiêu thụ các loại nông sản như: dưa hấu, vải thiều, hành tím, na, thanh long... tại các hệ thống phân phối lớn như: Hapro, Coopmart, Lotte, Big C...

Tuy nhiên, theo bà Lê Việt Nga, thời gian qua đã có nhiều hoạt động kết nối cung - cầu, song, còn một số hạn chế do cung - cầu chưa gặp nhau; một số tổ chức, đơn vị sản xuất hàng hóa gặp khó khăn trong quá trình đưa hàng hóa vào hệ thống phân phối hiện đại một cách bền vững, đặc biệt là DN nhỏ và vừa; các hộ nông dân… Nguyên nhân là do nhà sản xuất chưa xây dựng được thương hiệu, chưa đáp ứng được tiêu chuẩn của nhà phân phối về chất lượng, tính an toàn và sản lượng. Các DN phân phối cũng chưa chủ động tiếp cận các nguồn hàng ổn định và có chất lượng.

Ông Nguyễn Thái Dũng, Phó Tổng Giám đốc siêu thị Big C Thăng Long cũng xác nhận thông tin hàng Việt chiếm đến 90% tại hệ thống siêu thị của hãng này. Mặc dù Big C Việt Nam đã bị Tập đoàn Central Group của Thái-lan mua lại nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc hàng Việt Nam bị đẩy ra và thay thế bởi hàng Thái-lan. Big C luôn khuyến khích và tạo điều kiện để hàng hóa, nông sản Việt Nam vào hệ thống; đồng thời khuyến khích xuất khẩu (XK) nông sản Việt sang Thái-lan, như vải thiều. Tuy nhiên, trong quá trình hỗ trợ XK nông sản Việt Nam, chúng tôi thấy rằng các sản phẩm Việt Nam dù có chất lượng và hương vị hấp dẫn nhưng còn yếu vì chưa xây dựng được thương hiệu, hình ảnh bao bì chưa bắt mắt. Đặc biệt là công tác sơ chế, bảo quản sau thu hoạch chưa đáp ứng được yêu cầu.

Mặt khác, ông Nguyễn Thái Dũng chia sẻ, khách hàng là người quyết định hệ thống siêu thị “sống hay chết”. Vì vậy, siêu thị sẽ chỉ bán những sản phẩm nào được người Việt Nam ưa chuộng.

Theo Cục trưởng Xúc tiến thương mại (Bộ Công thương) Vũ Bá Phú, hơn 90% số DN Việt Nam có quy mô vừa và nhỏ, không sử dụng thương hiệu như công cụ kinh doanh đúng nghĩa cũng như chưa nhận thức đúng vai trò, vị trí của thương hiệu, khiến thương hiệu Việt khó cạnh tranh ngay trên thị trường trong nước. Trong khi đó, việc xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hàng hóa diễn ra phổ biến do DN chưa xây dựng được chỉ dẫn địa lý cho thương hiệu.

Đơn vị sản xuất gặp khó khăn trong quá trình đưa hàng hóa vào hệ thống phân phối hiện đại một cách bền vững.

Quẩn quanh với “ao nhà”

“Tại sao chúng ta chỉ nghĩ bảo vệ thị trường trong nước mà không vươn ra thị trường nước ngoài?”, ông Nguyễn Thái Dũng nêu vấn đề và cho rằng: “Chúng ta cần tận dụng tốt các cam kết của các hiệp định thương mại tự do, đừng nghĩ bảo vệ mình trước sự xâm lấn của các DN quốc tế, mà thay vào đó, cần nghĩ cách tận dụng các ưu đãi để mở rộng thị trường, trước mắt là thị trường Đông - Nam Á, được đánh giá là tương đồng nền kinh tế Việt Nam”.

Trong khi đó, ngay tại Việt Nam, theo Viện trưởng Nghiên cứu quản lý kinh tế T.Ư Nguyễn Đình Cung, hàng Việt Nam muốn vào siêu thị nước ngoài phải hiểu tiêu chuẩn mà họ đưa ra. Có những tiêu chuẩn phân biệt đối xử như họ ưu tiên hàng giá của họ hơn, DN Việt Nam phải hiểu và yêu cầu sửa đổi chuẩn mực đó. Có làm được như vậy, chúng ta mới bảo đảm đưa hàng Việt Nam vào siêu thị nước ngoài mà không vướng rào cản.

Nông sản Việt Nam xuất khẩu (XK) sang các thị trường khu vực và thế giới được yêu thích vì hương vị và chất lượng. Tuy nhiên, khách hàng quốc tế vẫn chưa đánh giá cao sản phẩm Việt Nam vì chúng ta chưa xây dựng thương hiệu tốt, mẫu mã kém bắt mắt, thiếu bảo hộ sở hữu trí tuệ, chỉ dẫn địa lý nên chưa tạo ra được sự uy tín, yên tâm với NTD nước ngoài. Hơn nữa, một phần kỹ thuật sau bảo quản bán hàng, sau thu hoạch còn yếu và thiếu, chưa đáp ứng được thị trường khó tính như: châu Âu, Mỹ, Nhật Bản. Từng hộ nông dân, hợp tác xã không thể đầu tư các mô hình chế biến, bảo quản nông sản sau thu hoạch vì chi phí này rất cao.

Chủ tịch Hiệp hội Các nhà bán lẻ Việt Nam Đinh Thị Mỹ Loan thẳng thắn, quan điểm ngày nay DN chỉ kinh doanh trên thị trường trong nước là lạc hậu. Bởi trong xu thế hội nhập rộng mở ngày càng mạnh của thế giới, Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế đó, DN Việt Nam không thể mãi quẩn quanh với “ao nhà”. DN nào đáp ứng yêu cầu ngày càng cao và đa dạng của NTD thì DN đó sẽ thắng.

(Còn nữa)