Nâng tầm logistics

NGUYỄN HÙNG, NGUYÊN THẢO

Thứ sáu, 29/12/2017 - 07:32 AM (GMT+7)
Font Size   |         Print

Đang có khoảng 1.300 DN Việt Nam làm dịch vụ logistics. Ảnh: SONG ANH

Lĩnh vực logistics từ vai trò của một ngành phục vụ, đang có xu hướng trở thành sự kết nối xuyên suốt và quyết định năng lực cạnh tranh của một nền kinh tế. Điều này đang đặt ra những yêu cầu thay đổi toàn diện về phương pháp và nguồn lực thúc đẩy sự đổi mới của ngành này ở mỗi quốc gia, trong đó có Việt Nam.

Kỳ 2: Bắt nhịp sự phát triển của thế giới

(Tiếp theo & hết)

Sức ép từ “cuộc đổ bộ” của các hãng vận tải lớn

Hiện nay có khoảng 1.300 DN Việt Nam làm dịch vụ logistics, nhưng chủ yếu có quy mô vừa và nhỏ, do vậy chỉ chiếm 25% thị phần. Hầu hết các DN này chỉ làm dịch vụ các chuỗi cung ứng nhỏ trong lãnh thổ Việt Nam với một số phân khúc như: Dịch vụ giao nhận, cho thuê kho bãi, làm thủ tục hải quan, gom hàng lẻ và thị phần tại các cảng… Trong khi đó, đang có 25 tập đoàn đa quốc gia giao nhận hàng đầu thế giới tham gia đầu tư và kinh doanh logistics ở Việt Nam dưới nhiều hình thức và chiếm 75% thị phần, chủ yếu là các dịch vụ quốc tế.

Báo cáo Logistics Việt Nam 2017 mới công bố nhận định: logistics Việt Nam còn khá non trẻ nên chỉ đang chiếm thị phần nhỏ. Các DN nước ngoài có số lượng tương đối ít nhưng lại chiếm thị phần tương đối lớn, như: DHL, Maersk Logistics, FedEx, UPS…

Tính toán của Cục Hàng hải Việt Nam cho thấy, lĩnh vực quan trọng nhất trong logistics là vận tải biển thì DN Việt Nam mới chỉ đáp ứng chuyên chở được 18% tổng lượng hàng hóa xuất, nhập khẩu (XNK), phần còn lại đang bị chi phối bởi các DN nước ngoài. Dự báo thị trường sẽ cạnh tranh khốc liệt hơn khi các tập đoàn lớn của nước ngoài đầu tư, mở rộng kinh doanh trong lĩnh vực này ở Việt Nam.

Điển hình như trường hợp của Samsung SDS liên doanh với Công ty CP Logistics Hàng không để tham gia mảng kinh doanh logistics tại Sân bay Nội Bài (Hà Nội), khi nhận thấy tiềm năng của lĩnh vực logistics tại thị trường Việt Nam có mức tăng trưởng 15 - 20% mỗi năm. Không những thế, thời gian qua, nhiều thương vụ mua bán và sáp nhập giữa DN trong nước với các thương hiệu nổi tiếng thế giới đã được triển khai như Tổng công ty Tân Cảng Sài Gòn đã từng “kết giao” với các hãng NYK và Mitsubishi để thực hiện dự án khai thác cảng container đầu tư bằng vốn ODA tại Cái Mép - Thị Vải. Sự quan tâm đến Cái Mép - Thị Vải của NYK đã minh chứng vai trò của cụm cảng này và mong muốn khai thác ở mức cam kết cao nhất để chiếm lĩnh thị trường Việt Nam.

Theo các chuyên gia, điểm yếu của các DN Việt Nam là chi phí dịch vụ còn chưa cạnh tranh, chất lượng cung cấp một số dịch vụ chưa cao, trong điều kiện thị trường cung cấp dịch vụ của Việt Nam hiện nay có sự cạnh tranh gay gắt. Nguyên nhân chính là so các DN cung cấp dịch vụ logistics xuyên quốc gia đang hoạt động tại Việt Nam, DN trong nước hạn chế về quy mô và vốn, về kinh nghiệm và trình độ quản lý, khả năng áp dụng công nghệ thông tin cũng như trình độ nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu quốc tế.

Tạo môi trường cạnh tranh công bằng

Để tăng sức cạnh tranh cho DN logistics Việt Nam, theo Chủ tịch Hiệp hội DN dịch vụ logistics Việt Nam (VLA) Lê Duy Hiệp, Chính phủ cần tạo hành lang pháp lý để các DN logistics yên tâm làm và làm một cách hợp pháp, nếu không DN logistics rất khó phát triển. Nhà nước cần có quỹ hỗ trợ những DN logistics có kế hoạch kinh doanh bài bản nhằm hỗ trợ những DN này mở rộng thị phần nhanh hơn. Bên cạnh đó, cần có quy hoạch phát triển ngành logistics một cách rõ ràng, tạo sân chơi bình đẳng. Mặt khác, ở Việt Nam các cụm cảng thường chia thành từng khu, mỗi DN xây tường rào nên không tạo thành chuỗi liên kết. Chính điều này đẩy chi phí vận tải cao lên. Bởi tính liên kết của DN trong nước yếu, kể cả các nhà sản xuất cũng không có hướng kết nối với nhau tạo nên thị trường đủ lớn để kết hợp được hai chiều, đây là sự lãng phí vô hình rất lớn. Do đó, cần có sự liên kết giữa các DN logistics với nhau và liên kết giữa các DN sản xuất với DN logistics.

Đặc biệt, ông Lê Duy Hiệp cho rằng, cần có một cơ quan quản lý nhà nước chuyên trách về lĩnh vực logistics, có thể là một cục/vụ tại một bộ. Vì logistics có mục đích là gia tăng giá trị thương mại, nên tạo điều kiện cho đại diện DN tham gia quá trình quản lý hoạt động logistics.

Về vấn đề này, Thứ trưởng Công thương Trần Quốc Khánh khẳng định, chúng ta cũng đã có một trung tâm logistics lớn ở các đầu tàu kinh tế quan trọng như TP Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng… Tới đây, chúng ta sẽ tiếp tục đầu tư, phát triển thêm các trung tâm logistics để tạo thuận lợi hơn nữa cho ngành dịch vụ này. Bộ Công thương đang tích cực triển khai Kế hoạch hành động nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển dịch vụ logistics Việt Nam đến năm 2025 với nhiều nội dung quan trọng như xây dựng các trung tâm logistics, phát triển thị trường dịch vụ logistics, xây dựng các DN đầu tàu… Chính phủ sẽ có những hỗ trợ phù hợp thông lệ quốc tế. Trong đó, biện pháp đầu tiên là tạo lập một môi trường cạnh tranh công bằng cho DN Việt Nam, tránh sự chèn ép của các DN nước ngoài. Tiếp đến là hỗ trợ về nguồn nhân lực thông qua việc đưa ra một chương trình đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho các DN logistics. Đồng thời, thúc đẩy sự liên kết các DN logistics trong nước với nhau cũng như việc đề cao vai trò và đổi mới hoạt động của các hiệp hội, hướng đến một môi trường cạnh tranh công bằng, phát triển nhanh và mạnh hơn.

Cấp thiết thay đổi phương pháp & nguồn lực

Theo tính toán, tốc độ phát triển ngành logistics tại Việt Nam những năm gần đây đạt khoảng 14-16%, có quy mô 8 -10 tỷ USD/năm (chưa tính doanh thu vận tải). WB cũng đưa ra dự báo, từ nay cho đến năm 2020, tốc độ tăng trưởng của Việt Nam là 12%/năm, kim ngạch XNK đạt mức 623 tỷ USD, đây đang là điểm đến của rất nhiều nhà đầu tư; đồng thời cũng là cơ hội lớn cho ngành logistics Việt Nam “bùng nổ”.

Để “khơi dậy” tiềm năng này, Quyết định 200/QĐ-TTg (QĐ 200) cũng đã xác định mục tiêu rất rõ ràng, đến năm 2025, tỷ trọng đóng góp của ngành dịch vụ logistics vào GDP đạt 8-10%, tốc độ tăng trưởng dịch vụ đạt 15-20%, tỷ lệ cho thuê ngoài dịch vụ logistics đạt 50 - 60%, chi phí logistics giảm xuống còn 16-20% GDP, xếp hạng theo chỉ số năng lực quốc gia về logistics trên thế giới đạt thứ 50 trở lên. Cùng với đó, phấn đấu hình thành các DN dịch vụ logistics đầu tàu, có đủ sức cạnh tranh trên thị trường; hỗ trợ phát triển các DN dịch vụ logistics theo phương châm hiện đại, chuyên nghiệp.

Phát biểu ý kiến tại Diễn đàn Logistcs Việt Nam 2017, Bộ trưởng Công thương Trần Tuấn Anh nêu rõ, sự phát triển logistics ở nước ta trong thời gian qua đã có những đóng góp không nhỏ vào tăng trưởng kinh tế, mở rộng và phát triển thị trường quốc tế, nâng cao mức hưởng thụ của người tiêu dùng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của đất nước. Đồng thời, các cơ chế, chính sách và thủ tục hành chính công cũng được các bộ, ngành quan tâm cải thiện tạo môi trường thông thoáng thuận lợi cho DN hoạt động trong lĩnh vực logistics. Nhìn chung, các nhiệm vụ Thủ tướng Chính phủ giao tại QĐ 200 đã được các bộ, ngành, địa phương, hiệp hội và DN tích cực triển khai thực hiện đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Song đến nay, nhiều hạn chế trong ngành logistics vẫn chưa giải quyết được như: Công tác quy hoạch giữa các ngành liên quan chưa có sự kết nối chặt chẽ; cơ sở hạ tầng giao thông thương mại, công nghệ thông tin còn yếu kém, chưa kết nối được với các nước trong khu vực; nguồn nhân lực cho hoạt động logistics chưa đáp ứng được yêu cầu; đặc biệt là năng lực cạnh tranh của DN kinh doanh dịch vụ logistics ở Việt Nam còn chưa cao so các nước trong khu vực và thế giới.

Lĩnh vực logistics thế giới sẽ chuyển dịch trọng tâm về các thị trường đang phát triển tại châu Á. Đầu tư vào công nghệ và con người sẽ là yếu tố quyết định sự phát triển của lĩnh vực logistics trong tương lai. Đây là những yếu tố mà các cơ quan quản lý nhà nước, hiệp hội và DN dịch vụ logistics cũng như DN sản xuất, kinh doanh của Việt Nam cần phải tính đến trong kế hoạch phát triển logistics thời gian tới. Đặc biệt, cần tiếp tục hoàn thiện khung thể chế và bộ máy quản lý nhà nước hỗ trợ logistics phát triển; sự chủ động, năng động tận dụng cơ hội từ chính các DN.

Bộ Công thương hy vọng, trong những năm tới, với sự cải thiện về phương pháp nghiên cứu và sự hình thành của cơ sở dự liệu logistics tổng thể, các báo cáo logistics thường niên sẽ đáp ứng tốt hơn nữa nhu cầu thông tin của các độc giả trong và ngoài nước; qua đó góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển dịch vụ logistics bắt nhịp sự phát triển của thế giới, đưa Việt Nam trở thành một trung tâm logistics của khu vực.